TÓM TẮT
TTTS Giai đoạn I
- Giai đoạn 1, không có hoặc có triệu chứng trong mức chấp nhận được, và chiều dài cổ tử cung >25 mm: Đối với bệnh nhân mắc hội chứng truyền máu song thai (TTTS) giai đoạn I, không có hoặc có triệu chứng trong mức chấp nhận được và chiều dài cổ tử cung >25 mm, chúng tôi đề xuất theo dõi chờ đợi thay vì can thiệp xâm lấn (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi thực hiện siêu âm 2 lần/tuần để phát hiện sự tiến triển sang thể bệnh nặng hơn. Đồng thời, các thai kỳ này được theo dõi bằng Doppler huyết động 2 lần/tuần để đánh giá vận tốc đỉnh tâm thu động mạch não giữa (MCA-PSV) và đánh giá chỉ số sinh học thai nhi (BPP), bắt đầu lần lượt từ tuần thứ 16 và tuần thứ 30 của thai kỳ. Việc sinh con được lên kế hoạch vào tuần 36+0 đến 37+0 nếu giai đoạn TTTS và các triệu chứng vẫn ổn định. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân không có hoặc có triệu chứng trong mức chấp nhận được và chiều dài cổ tử cung bình thường’ ở dưới.)
- Giai đoạn 1 kèm triệu chứng trầm trọng HOẶC chiều dài cổ tử cung ≤25 mm từ tuần 16 đến 26: Đối với bệnh nhân TTTS giai đoạn I từ tuần 16 đến 26 của thai kỳ, có các triệu chứng trầm trọng do đa ối nặng hoặc cổ tử cung ngắn, chúng tôi đề xuất phẫu thuật laser triệt tiêu các nhánh thông nhau ở bánh nhau thay vì hút nước ối (Khuyến cáo 1B). Việc hút nước ối khi dùng làm điều trị bước một có thể dẫn đến rách màng ngăn vô ý hoặc gây xuất huyết trong nước ối, điều này sẽ gây khó khăn cho việc điều trị laser sau đó khi có chỉ định do TTTS diễn tiến xấu hơn. Hút nước ối cũng thường đòi hỏi phải thực hiện nhiều lần. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân có triệu chứng trầm trọng hoặc chiều dài cổ tử cung ngắn từ tuần 16 đến 26 của thai kỳ’ ở dưới.)
Chúng tôi thực hiện một lần hút nước ối sau khi rút nội soi thai nhi để giảm nhẹ các triệu chứng cho người mẹ. Sau điều trị laser, thể tích nước ối sẽ trở lại bình thường vào tuần thứ 5 ở túi ối thai cho và vào tuần thứ 8 ở túi ối thai nhận trong hơn 95% trường hợp.
Các thai kỳ này được theo dõi sát sao bằng siêu âm và Doppler để phát hiện các bất thường về thể tích nước ối, bất thường màng ngăn giữa hai thai, và sự mất tương xứng về MCA-PSV hoặc sự phát triển của thai nhi. Đánh giá chỉ số sinh học thai nhi (BPP) được thực hiện hàng tuần từ tuần thứ 30 của thai kỳ. Việc sinh con được lên kế hoạch vào tuần 36+0 đến 37+0, trừ khi có các biến chứng đòi hỏi phải sinh sớm hơn. (Xem thêm mục ‘Theo dõi và chăm sóc trước sinh sau điều trị laser’ ở dưới.)
- Giai đoạn 1 kèm triệu chứng trầm trọng HOẶC cổ tử cung ngắn sau tuần 26: Đối với bệnh nhân TTTS giai đoạn I sau tuần 26 của thai kỳ, có triệu chứng trầm trọng hoặc cổ tử cung ngắn, việc hút nước ối nhiều lần hoặc phẫu thuật laser triệt tiêu các nhánh thông nhau (nếu khả thi về mặt kỹ thuật) là hợp lý. Nếu thực hiện phẫu thuật laser, chúng tôi sẽ hút nước ối một lần sau khi rút nội soi thai nhi để giảm nhẹ triệu chứng cho người mẹ. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân có triệu chứng trầm trọng sau tuần 26 của thai kỳ’ ở dưới.)
Sau thủ thuật, các thai kỳ này được theo dõi chặt chẽ bằng siêu âm, Doppler và đánh giá chỉ số sinh học thai nhi; tần suất theo dõi tùy thuộc vào phương pháp can thiệp (hút nước ối hoặc phẫu thuật laser). Việc sinh con được lên kế hoạch vào tuần 36+0 đến 37+0, trừ khi có các biến chứng đòi hỏi phải sinh sớm hơn. (Xem thêm mục ‘Theo dõi và chăm sóc trước sinh’ ở dưới.)
TTTS Giai đoạn II đến IV
- Từ tuần 16 đến 26: Đối với bệnh nhân TTTS giai đoạn II đến IV từ tuần 16 đến 26 của thai kỳ, chúng tôi đề xuất phẫu thuật laser triệt tiêu các nhánh thông nhau ở bánh nhau thay vì hút nước ối nhiều lần (Khuyến cáo 2B). Phẫu thuật laser giúp kéo dài tuổi thai, tăng tỷ lệ sống sót của trẻ sơ sinh và cải thiện kết cục thần kinh dài hạn. Chúng tôi sử dụng kỹ thuật chọn lọc tuần tự, sau đó áp dụng phương pháp “Solomon” để đảm bảo sự phân chia bánh nhau hoàn toàn. Một lần hút nước ối được thực hiện sau khi rút nội soi thai nhi để giảm nhẹ triệu chứng cho người mẹ. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn điều trị từ tuần 16 đến 26 của thai kỳ’ ở dưới.)
Các thai kỳ này được theo dõi chặt chẽ bằng siêu âm, Doppler và đánh giá chỉ số sinh học thai nhi sau thủ thuật. Việc sinh con được lên kế hoạch vào tuần 36+0 đến 37+0, trừ khi có các biến chứng đòi hỏi phải sinh sớm hơn. (Xem thêm mục ‘Theo dõi và chăm sóc trước sinh’ ở dưới.)
- Sau tuần 26: Đối với bệnh nhân TTTS giai đoạn II đến IV sau tuần 26 của thai kỳ, chúng tôi đề xuất phẫu thuật laser triệt tiêu các nhánh thông nhau (nếu khả thi về mặt kỹ thuật) thay vì chỉ hút nước ối đơn thuần (Khuyến cáo 2C). Một lần hút nước ối được thực hiện sau khi rút nội soi thai nhi để giảm nhẹ triệu chứng cho người mẹ. (Xem thêm mục ‘Lựa chọn điều trị sau tuần 26 của thai kỳ’ ở dưới.)
Các thai kỳ này được theo dõi chặt chẽ bằng siêu âm, Doppler và đánh giá chỉ số sinh học thai nhi sau thủ thuật. Việc sinh con được lên kế hoạch vào tuần 36+0 đến 37+0, trừ khi có các biến chứng đòi hỏi phải sinh sớm hơn. (Xem thêm mục ‘Theo dõi và chăm sóc trước sinh’ ở dưới.)
Corticosteroid trước sinh – Sau tuần 24 của thai kỳ, một liệu trình corticosteroid trước sinh được chỉ định để dự phòng trong trường hợp sinh non. (Xem “Liệu pháp corticosteroid trước sinh nhằm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do suy hô hấp ở trẻ sinh non”.)
Vai trò của đình chỉ thai chọn lọc (Selective feticide) – Đình chỉ thai chọn lọc có thể là lựa chọn tối ưu khi TTTS kèm theo dị tật đe dọa tính mạng ở một thai nhi, sau khi phẫu thuật laser thất bại, hoặc khi xảy ra hội chứng truyền máu song thai chậm (TAPS) hoặc TTTS tái phát ngay sau điều trị laser. (Xem thêm mục ‘Bất thường đe dọa tính mạng ở một thai nhi’ ở dưới.)
Tiên lượng dài hạn – Khoảng 9% trẻ sống sót sau phẫu thuật laser có một mức độ bất thường về phát triển thần kinh dài hạn. Việc theo dõi thần kinh đối với những trẻ sơ sinh có vẻ khỏe mạnh sau phẫu thuật laser là cần thiết. (Xem thêm mục ‘Suy giảm phát triển thần kinh’ ở dưới.)