Xuất huyết thai nhi vào tuần hoàn mẹ lượng lớn tự phát

TÓM TẮT

Định nghĩa/Chẩn đoán – Chúng tôi định nghĩa xuất huyết thai-mẹ (FMH) mức độ nặng khi thỏa mãn một trong hai hoặc cả hai tiêu chí sau:

  • FMH $\ge$ 20% thể tích máu thai nhi, vì mức độ mất máu này có liên quan đến bệnh lý hoặc tử vong ở thai nhi (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới).
  • FMH đi kèm với vận tốc đỉnh tâm thu động mạch não giữa (MCA-PSV) $\ge$ 1,5 bội số trung vị (MoMs), vì chỉ số này tương quan với tình trạng thiếu máu thai nhi mức độ trung bình đến nặng (Xem ‘Định nghĩa/Chẩn đoán’ ở dưới).

Biểu hiện lâm sàng – Xuất huyết thai-mẹ mức độ nặng tự phát có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào trong thai kỳ hoặc khi sinh. Thai chết lưu có thể là dấu hiệu khởi phát của một đợt xuất huyết cấp tính mức độ nặng. Phù thai và/hoặc các kiểu nhịp tim thai (FHR) bất thường và/hoặc giảm cử động thai có thể là dấu hiệu của xuất huyết thai-mẹ cấp tính mức độ nặng nhưng không gây tử vong, hoặc xuất huyết thai-mẹ ngắt quãng dẫn đến mất máu tích lũy lớn theo thời gian. Một số trường hợp xuất huyết thai-mẹ mức độ nặng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ rệt. Trong giai đoạn trước sinh, giảm hoặc mất cử động thai là triệu chứng thường gặp nhất (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).

Đối tượng cần đánh giá xuất huyết thai-mẹ – Xuất huyết thai-mẹ mức độ nặng chỉ được phát hiện nếu lâm sàng nhận diện được các kịch bản liên quan và thực hiện xét nghiệm tìm FMH. Hầu hết các kịch bản lâm sàng này phản ánh thể nặng nhất của bệnh; những trường hợp nhẹ hơn thường dễ bị bỏ sót do không có biểu hiện bất thường và xét nghiệm FMH không phải là xét nghiệm sàng lọc định kỳ trước hoặc sau sinh.

Chúng tôi đề xuất xét nghiệm tìm xuất huyết thai-mẹ mức độ nặng trong các tình huống lâm sàng sau, trừ khi đã biết rõ nguyên nhân gây ra dấu hiệu đó:

  • Phù thai không do miễn dịch với MCA-PSV $\ge$ 1,5 MoMs
  • Nhịp tim thai hình sin với MCA-PSV $\ge$ 1,5 MoMs
  • Thai chết lưu
  • Thiếu máu sơ sinh

Chúng tôi cũng thực hiện xét nghiệm cho bệnh nhân RhD âm tính sau sinh để đảm bảo họ được dùng liều globulin miễn dịch anti-D phù hợp (Xem ‘Đối tượng xét nghiệm FMH’ ở dưới).

Xét nghiệm chẩn đoán FMH – Có thể sử dụng xét nghiệm rửa acid Kleihauer-Betke hoặc đo tế bào dòng chảy (flow cytometry) để chẩn đoán FMH. Thể tích máu thai nhi thất thoát nên được tính theo tỷ lệ phần trăm của thể tích máu thai-nhau ước tính (Xem ‘Đo thể tích FMH’ ở dưới).

Xử trí – Tiếp cận của chúng tôi đối với nghi ngờ xuất huyết thai-mẹ tự phát với kết quả theo dõi thai nhi an tâm được trình bày trong sơ đồ (sơ đồ 1). Những bệnh nhân có kết quả theo dõi thai nhi không an tâm thường cần phải chấm dứt thai kỳ cấp cứu, bất kể nguyên nhân là gì (Xem ‘Xử trí các trường hợp phát hiện trước sinh’ ở dưới).

Sinh con – Chúng tôi khuyến cáo sinh mổ để ngăn ngừa tình trạng thai nhi xấu đi do xuất huyết thai-mẹ tiếp diễn. Cần thông báo cho đội ngũ nhi khoa về nguy cơ thiếu máu sơ sinh và gửi bánh nhau để đánh giá mô bệnh học (Xem ‘Sinh con’ ở dưới).

Tiên lượng – Tiên lượng cho thai nhi/sơ sinh phụ thuộc vào tốc độ mất máu của thai nhi và thể tích xuất huyết so với tổng thể tích máu thai-nhau (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới).

Tái phát – Các báo cáo ca lâm sàng đã mô tả tình trạng xuất huyết thai-mẹ mức độ nặng tái diễn trong các lần mang thai liên tiếp (Xem ‘Tái phát’ ở dưới).

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here