TÓM TẮT
Đánh giá – Hầu hết các tổn thương mi mắt là lành tính. Bác sĩ chăm sóc ban đầu có thể phân biệt các tổn thương thường gặp, bao gồm lẹo (hình 1A-B) và chắp (hình 2A-B và hình 1), với các tình trạng gây suy giảm thị lực hoặc ác tính bằng cách xác định độ tuổi của bệnh nhân khi xuất hiện tổn thương, đồng thời khai thác bệnh sử nhãn khoa và khám mắt tập trung (sơ đồ 1):
Bệnh sử – Các đặc điểm quan trọng bao gồm sự hiện diện của các triệu chứng nhãn khoa đi kèm (ví dụ: thay đổi thị lực, đỏ mắt, song thị), thời điểm khởi phát (<24 giờ so với vài tuần hoặc vài tháng), đau mi mắt và các yếu tố nguy cơ của tổn thương ác tính. (Xem thêm phần ‘Bệnh sử nhãn khoa’ ở dưới.)
Khám mắt – Các đặc điểm quan trọng của tổn thương bao gồm số lượng tổn thương, hình thái (phẳng hay gồ lên), màu sắc và sắc tố, vị trí (mi trên hoặc mi dưới), bờ mi có bị ảnh hưởng hay không, và có kèm theo giãn mạch hoặc loét hay không. (Xem thêm phần ‘Khám mắt’ ở dưới.)
Các dấu hiệu cảnh báo (Red flags) – Những bệnh nhân có các dấu hiệu cảnh báo cần được chuyển tuyến và đánh giá khẩn cấp bởi bác sĩ nhãn khoa (xem phần ‘Các dấu hiệu cảnh báo’ ở dưới):
- Thay đổi thị lực, đặc biệt nếu kèm theo đỏ mắt
- Không thể mở mi mắt, song thị, hạn chế vận nhãn hoặc lồi mắt
- Tiền sử chấn thương
Chỉ định chuyển tuyến không khẩn cấp
Các đặc điểm liên quan đến tính ác tính – Những đặc điểm sau đây thường liên quan đến các loại ung thư mi mắt phổ biến nhất và là chỉ định để chuyển tuyến không khẩn cấp. Các đặc điểm này được tóm tắt trong bảng (bảng 2) (xem phần ‘Các đặc điểm liên quan đến tính ác tính’ và ‘Tổn thương ác tính’ ở dưới):
- Loét, chảy dịch hoặc chảy máu
- Giãn mạch
- Biến dạng bờ mi hoặc rụng lông mi (dấu hiệu của sự phá hủy cấu trúc bờ mi)
- Thay đổi sắc tố theo thời gian hoặc tổn thương không đối xứng, bờ không đều
- Tổn thương phát triển chậm, không đau theo thời gian hoặc phát triển nhanh trong vài tuần (có thể gợi ý u gai sừng – keratoacanthoma)
- Tổn thương “tái phát” tại cùng một vị trí ở mi mắt
Các tổn thương có thể gây suy giảm thị lực – Việc nhận diện các tình huống này, chủ yếu gặp ở đối tượng nhi khoa, là căn cứ để chuyển tuyến không khẩn cấp (xem phần ‘Các tổn thương có thể gây suy giảm thị lực’ ở dưới):
- Tổn thương mạch máu mi mắt ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhũ nhi
- Tổn thương sắc tố mi mắt ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhũ nhi
- Các khối dạng nang phát triển chậm, có thể gây sụp mi hoặc chèn ép cơ học lên nhãn cầu
Các tổn thương thường gặp nhất ở nhiều nhóm tuổi – Lẹo và chắp có khả năng là những tổn thương phổ biến nhất ở nhiều nhóm tuổi.
Lẹo (Hordeolum)
Biểu hiện lâm sàng – Lẹo là một nốt sần cấp tính (khởi phát <24 giờ), khu trú, đau và đỏ xuất hiện ở mi trên hoặc mi dưới (hình 1A và hình 1B). Lẹo có thể khởi đầu bằng một giai đoạn tiền triệu ngắn với cảm giác ngứa hoặc khó chịu mơ hồ ở mi mắt. (Xem phần ‘Lẹo’ ở dưới.)
Xử trí – Chúng tôi đề xuất xử trí bảo tồn để hỗ trợ dẫn lưu (Khuyến cáo 2C). Xử trí bảo tồn bao gồm chườm ấm, ẩm lên vùng bị tổn thương (5 đến 10 phút, 4 lần/ngày), massage và lau nhẹ mi mắt sau khi chườm ấm, đồng thời ngưng sử dụng mỹ phẩm trang điểm mắt để hỗ trợ quá trình lành thương. (Xem phần ‘Lẹo’ ở dưới.)
Chúng tôi khuyến cáo không nên dùng kháng sinh tại chỗ hoặc toàn thân (Khuyến cáo 2C), vì thiếu bằng chứng cho thấy sự cải thiện về khả năng giải quyết lâm sàng hoặc các kết cục khác. Ngoại lệ trong việc dùng kháng sinh là khi có nghi ngờ viêm mô tế bào tiền nhãn cầu. (Xem phần “Viêm mô tế bào tiền nhãn cầu”, mục ‘Điều trị’.)
Nếu tổn thương không cải thiện trong vòng hai tuần, bệnh nhân cần được chuyển đến bác sĩ nhãn khoa để rạch và dẫn lưu.
Chắp (Chalazion)
Biểu hiện lâm sàng – Chắp biểu hiện là một nốt sần cứng, không đau, đơn độc ở mi trên hoặc mi dưới (hình 2A). Chắp phát triển chậm trong nhiều ngày đến nhiều tuần, trái ngược với lẹo vốn xuất hiện cấp tính. Các nốt lẹo không tự khỏi thường chuyển thành chắp sau khi tình trạng viêm cấp tính thuyên giảm. Chắp và lẹo có thể có vẻ ngoài tương tự; tuy nhiên, chắp không đau, ít đỏ hơn và không có biểu hiện “viêm cấp” (hình 1).
Xử trí – Chắp có thể mất vài tuần đến vài tháng để tự khỏi. Chườm ấm mi mắt trong 5 đến 10 phút, 4 lần/ngày có thể hỗ trợ quá trình này. (Xem phần ‘Chắp’ ở dưới.)
Chúng tôi khuyến cáo không dùng kháng sinh (tại chỗ hoặc toàn thân) và/hoặc steroid (Khuyến cáo 2C), vì chúng không chứng minh được hiệu quả trong việc làm giảm triệu chứng. Những bệnh nhân có tổn thương không khỏi sau một đến hai tháng nên được chuyển đến bác sĩ nhãn khoa để rạch nạo hoặc tiêm glucocorticoid.
Các tổn thương tái phát tại cùng một vị trí ở mi mắt nên được chuyển chuyên khoa nhãn khoa để đánh giá và sinh thiết nhằm loại trừ ác tính, đặc biệt là ung thư biểu mô tuyến bã. (Xem phần ‘Ung thư biểu mô tuyến bã’ ở dưới.)
Các tổn thương khác – Việc nhận diện một số tổn thương khác có thể thực hiện dựa trên độ tuổi và đặc điểm của bệnh nhân (bảng 1). Chẩn đoán và xử trí chi tiết được thảo luận trong từng phần:
- Trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi – Mụn hạt kê (milia) là tổn thương thường gặp. (Xem phần ‘Trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi’ ở dưới.)
- Trẻ em và thanh thiếu niên – Các tổn thương phổ biến nhất bao gồm nốt ruồi mắc phải, mụn hạt kê và u mềm lây. (Xem phần ‘Trẻ em và thanh thiếu niên’ ở dưới.)
- Người trưởng thành và người cao tuổi – Các tổn thương (lành tính) phổ biến nhất bao gồm nốt ruồi mắc phải, u nhú tế bào vảy, dày sừng da dầu, nang bao thượng bì và sẩn xơ vàng. (Xem phần ‘Người trưởng thành và người cao tuổi’ ở dưới.)