TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh – Chấn thương áp lực tai xảy ra khi có sự chênh lệch áp suất giữa tai giữa và môi trường xung quanh làm biến dạng màng nhĩ, có thể tiến triển thành rách hoặc thủng màng nhĩ. Trong những trường hợp nặng, màng tròn hoặc màng bầu ngăn cách với tai trong có thể bị rách, dẫn đến rò dịch ngoại lymph. Chấn thương áp lực dễ xảy ra hơn khi vòi Eustache (thông thường sẽ mở khi ngáp hoặc nuốt để cân bằng chênh lệch áp suất) hoạt động không hiệu quả. (Xem thêm ‘Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Các cơ chế gây tổn thương thường gặp – Nguyên nhân phổ biến nhất gây chấn thương áp lực tai là di chuyển bằng đường hàng không. Các nguyên nhân thường gặp khác bao gồm lặn, sử dụng buồng giảm áp hoặc buồng oxy cao áp và chấn thương do sóng xung kích. (Xem thêm ‘Các cơ chế gây tổn thương thường gặp’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán – Chẩn đoán chấn thương áp lực tai chủ yếu dựa trên lâm sàng, được nghi ngờ ở những bệnh nhân có cảm giác áp lực tai, đau, giảm thính lực, chóng mặt và/hoặc ù tai trong hoặc sau khi thay đổi áp suất môi trường. Các dấu hiệu thăm khám để xác nhận bao gồm sưng nề màng nhĩ, xuất huyết dưới màng nhĩ (Hình 1), tràn dịch tai giữa và/hoặc thủng màng nhĩ. Bệnh nhân cần được đánh giá các triệu chứng tổn thương tai trong, bao gồm mất thính lực tiếp nhận và chóng mặt. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
Xử trí – Hầu hết các trường hợp chấn thương áp lực tai sẽ hồi phục thông qua điều trị bảo tồn.
Chỉ định thăm khám Tai Mũi Họng (TMH) khẩn cấp – Những bệnh nhân có triệu chứng tổn thương tai trong (chóng mặt, mất thính lực tiếp nhận hoặc rung giật nhãn cầu) và những người chấn thương do sóng xung kích có nguy cơ để lại di chứng vĩnh viễn, cần được chuyển đến chuyên khoa TMH thăm khám khẩn cấp. Phẫu thuật có thể được chỉ định cho các tổn thương nghiêm trọng như đứt chuỗi xương con hoặc rò dịch ngoại lymph. (Xem thêm ‘Chỉ định chuyển chuyên khoa TMH khẩn cấp’ ở dưới.)
Điều trị bảo tồn tổng quát – Đa số các tổn thương do áp lực sẽ tự lành theo thời gian; hiện chưa có liệu pháp đặc hiệu nào được chứng minh là giúp rút ngắn thời gian hồi phục triệu chứng. Thuốc giảm đau có thể được sử dụng khi cần thiết. Việc dùng thuốc co mạch và kháng sinh chỉ giới hạn trong việc xử lý các bất thường cơ bản hoặc các biến chứng của chấn thương áp lực. (Xem thêm ‘Điều trị bảo tồn tổng quát’ ở dưới.)
Phòng ngừa – Để phòng ngừa chấn thương áp lực tai, chúng tôi khuyên bệnh nhân nên tránh các hoạt động gây thay đổi áp suất khi có thể, đặc biệt là khi đang sung huyết niêm mạc mũi. Chúng tôi cũng xác định và điều trị các rối loạn chức năng vòi Eustache cơ bản. Ngoài ra, chúng tôi hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các nghiệm pháp giúp cân bằng áp suất tai trong khi hoạt động, bao gồm nuốt và nghiệm pháp Valsalva cho người lớn và trẻ lớn, hoặc cho bú, ngậm bình sữa hoặc núm vú giả đối với trẻ nhũ nhi. (Xem thêm ‘Chiến lược tổng quát cho mọi bệnh nhân’ ở dưới.)
Đối với người trưởng thành có tiền sử chấn thương áp lực tai đang chuẩn bị tham gia các hoạt động gây thay đổi áp suất (ví dụ: đi máy bay, lặn), chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc co mạch đường uống thay vì thuốc co mạch dùng tại chỗ hoặc không điều trị để ngăn ngừa tái phát (Khuyến cáo 2B). Chúng tôi sử dụng pseudoephedrine 30 phút trước khi bắt đầu hoạt động. (Xem thêm ‘Thuốc co mạch cho người lớn có tiền sử chấn thương áp lực’ ở dưới.)
Đối với những bệnh nhân bị chấn thương tái diễn, rối loạn chức năng vòi Eustache nặng và không thể tránh được các hoạt động gây chấn thương áp lực, các lựa chọn phẫu thuật để phòng ngừa bao gồm rạch màng nhĩ và nong vòi Eustache bằng bóng. (Xem thêm ‘Phẫu thuật trong các trường hợp nặng’ ở dưới.)