Đánh giá chức năng phổi tiền phẫu cho phẫu thuật cắt phổi

TÓM TẮT

Phạm vi – Chỉ định phổ biến nhất của phẫu thuật cắt bỏ phổi là ung thư phổi, tuy nhiên phẫu thuật này cũng có thể được chỉ định trong một số bệnh lý phổi lành tính (ví dụ: giãn phế quản khu trú). Trong nhiều trường hợp, cần cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ ở những bệnh nhân suy giảm chức năng phổi. Bệnh nhân cần được đánh giá để xác định mức độ ảnh hưởng của việc cắt bỏ đối với chức năng phổi sau mổ cũng như nguy cơ xảy ra các biến chứng tim phổi. Các hướng dẫn từ Trường Cao đẳng các Bác sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ (ACCP) được cung cấp trong lưu đồ (Sơ đồ 1). Ngoài ra, còn có các hướng dẫn từ Hiệp hội Hô hấp Châu Âu (ERS)/Hiệp hội Phẫu thuật Lồng ngực Châu Âu (ESTS). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’‘Hướng dẫn’ ở dưới.)

Đánh giá ban đầu – Đánh giá tiền phẫu ban đầu cho phẫu thuật cắt bỏ phổi bao gồm đánh giá phổi tổng quát và đo chức năng hô hấp (PFTs). Cụ thể, thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO) là những thông số PFT hữu ích nhất giúp dự đoán khả năng dung nạp phẫu thuật và xác định nhu cầu thực hiện thêm các xét nghiệm bổ sung. (Xem thêm phần ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới.)

FEV1 và DLCO ≥ 80% – Những bệnh nhân có FEV1 và DLCO tiền phẫu đều ≥ 80% giá trị dự đoán thì không cần thực hiện thêm các xét nghiệm khác. Nhóm bệnh nhân này được phân loại nguy cơ thấp và thường có thể dung nạp tốt phẫu thuật cắt thùy hoặc cắt toàn bộ phổi mà không để lại tình trạng suy giảm chức năng phổi sau mổ. (Xem thêm phần ‘FEV1 và DLCO tiền phẫu ≥ 80%’‘Nguy cơ thấp’ ở dưới.)

FEV1 và DLCO < 80% – Đối với bệnh nhân có FEV1 hoặc DLCO tiền phẫu < 80% giá trị dự đoán, cần tính toán chỉ số FEV1 và DLCO dự đoán sau phẫu thuật (PPO). Trong khi ACCP ủng hộ phương pháp này, ERS/ESTS đề xuất thực hiện nghiệm pháp gắng sức tim phổi (CPET) cho nhóm đối tượng này, và đây cũng là một lựa chọn phù hợp. (Xem thêm phần ‘FEV1 và DLCO tiền phẫu < 80%’ ở dưới.)

Tính toán PPO FEV1 và DLCO – Chỉ số PPO FEV1 và DLCO được tính toán dựa trên các giá trị tiền phẫu và tỷ lệ đóng góp chức năng của phần phổi dự định cắt bỏ (máy tính 1công cụ tính toán 2). Tỷ lệ đóng góp chức năng này có thể được ước tính thông qua xạ hình tưới máu định lượng hoặc tính toán giải phẫu dựa trên số phân thùy cần cắt bỏ. (Xem thêm phần ‘Dự đoán chức năng phổi sau phẫu thuật’ ở dưới.)

  • PPO FEV1 và PPO DLCO ≥ 60% – Bệnh nhân có cả PPO FEV1 và PPO DLCO ≥ 60% giá trị dự đoán được coi là nguy cơ thấp và có khả năng dung nạp tốt phẫu thuật cắt thùy hoặc cắt toàn bộ phổi. (Xem thêm phần ‘Phiên giải dự đoán sau mổ’‘PPO FEV1 và DLCO ≥ 60%’ ở dưới.)
  • PPO FEV1 hoặc PPO DLCO < 60%
    • Đối với bệnh nhân có PPO FEV1 hoặc PPO DLCO < 60% giá trị dự đoán, nhưng cả hai đều ≥ 30% giá trị dự đoán, cần thực hiện nghiệm pháp gắng sức đơn giản (leo cầu thang hoặc test đi bộ shuttle walk). (Xem thêm phần ‘Phiên giải dự đoán sau mổ’‘PPO FEV1 hoặc DLCO < 60% nhưng ≥ 30%’ ở dưới.)
    • Bệnh nhân leo được ≥ 22 mét (trong test leo cầu thang) hoặc đi bộ ≥ 400 mét (trong test shuttle walk) được coi là nguy cơ thấp và có thể dung nạp phẫu thuật cắt bỏ. (Xem thêm phần ‘Leo cầu thang’‘Test đi bộ shuttle walk tăng dần’ ở dưới.)
    • Với những bệnh nhân không đạt ngưỡng leo cầu thang (< 22 mét) hoặc shuttle walk (< 400 mét), có chỉ định thực hiện CPET chính quy để đo mức tiêu thụ oxy tối đa (VO2max).
  • PPO FEV1 hoặc PPO DLCO < 30% – Đối với bệnh nhân có PPO FEV1 hoặc PPO DLCO < 30% giá trị dự đoán, có chỉ định thực hiện CPET để đo VO2max. (Xem thêm phần ‘Phiên giải dự đoán sau mổ’‘PPO FEV1 và DLCO < 30%’ ở dưới.)

CPET – Đối với những bệnh nhân thực hiện CPET, chúng tôi đề xuất hướng tiếp cận sau (xem phần ‘Nghiệm pháp gắng sức tim phổi tích hợp’ ở dưới):

  • VO2max > 20 mL/kg/phút – Bệnh nhân đạt VO2max > 20 mL/kg/phút (hoặc > 75% giá trị dự đoán) thường có tỷ lệ biến chứng sau mổ ở mức chấp nhận được và có thể dung nạp phẫu thuật cắt bỏ. (Xem thêm phần ‘Nguy cơ thấp’ ở dưới.)
  • VO2max < 10 mL/kg/phút – Bệnh nhân có VO2max < 10 mL/kg/phút (hoặc < 35% giá trị dự đoán) có nguy cơ xảy ra các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm cả tử vong, ở mức cao không thể chấp nhận được khi phẫu thuật cắt bỏ phổi. Những bệnh nhân này nên được điều trị bằng các phương pháp can thiệp tối thiểu hoặc không phẫu thuật. (Xem thêm phần ‘Nguy cơ cao’ ở dưới.)
  • VO2max từ 10 đến 20 mL/kg/phút – Bệnh nhân đạt VO2max trong khoảng 10-20 mL/kg/phút có mức độ rủi ro dao động lớn và được phân loại là “nguy cơ trung bình” theo hướng dẫn của ACCP, khuyến cáo nên cá thể hóa phương pháp tiếp cận. ERS/ESTS cũng đồng ý về sự biến thiên rủi ro ở nhóm này nhưng cung cấp hướng dẫn chi tiết hơn để lựa chọn ứng viên phẫu thuật. Chúng tôi đồng thuận với cách tiếp cận của ERS/ESTS là tính toán PPO VO2max cho nhóm đối tượng này:
    • Nếu PPO VO2max < 10 mL/kg/phút (hoặc < 35%), khả năng thích nghi với phẫu thuật là thấp, nên tìm kiếm các lựa chọn can thiệp tối thiểu hoặc không cắt bỏ.
    • Ngược lại, nếu PPO VO2max ≥ 10 mL/kg/phút (hoặc ≥ 35%), có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ trong phạm vi đã tính toán; tuy nhiên, bệnh nhân cần được giải thích rõ về nguy cơ cao hơn, đặc biệt nếu PPO FEV1 hoặc DLCO < 30% giá trị dự đoán.
    (Xem thêm phần ‘Nguy cơ trung bình’, ‘Nghiệm pháp gắng sức tim phổi tích hợp’‘Tiếp cận thay thế (ERS/ESTS)’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here