TÓM TẮT
Chỉ định
- Đối với hầu hết bệnh nhân thực hiện phẫu thuật dự kiến có nguy cơ mất máu cao (ví dụ: >750 mL), chúng tôi khuyến cáo thực hiện thu hồi máu trong phẫu thuật (Khuyến cáo 1B), đặc biệt khi có khả năng phải truyền máu đồng loại. Khuyến cáo này dựa trên các bằng chứng từ thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc thu hồi máu giúp giảm nhu cầu truyền hồng cầu (RBC) đồng loại với tỷ lệ xảy ra biến cố bất lợi thấp. (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
- Kỹ thuật này cũng được áp dụng cho những bệnh nhân từ chối truyền máu đồng loại, với điều kiện không có chống chỉ định tuyệt đối. (Xem thêm “Tiếp cận bệnh nhân từ chối truyền máu”.)
- Đối với bệnh nhân phẫu thuật có dự kiến mất máu mức độ trung bình (500 đến 750 mL), việc quyết định sử dụng thu hồi máu trong phẫu thuật cần được cá thể hóa, xem xét các yếu tố như: các yếu tố tiền phẫu hoặc trong phẫu thuật làm tăng khả năng phải truyền máu, tính chất của các chống chỉ định tương đối và sự sẵn có của máu đồng loại phù hợp qua phản ứng chéo (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ và ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)
Lợi ích
Ngoài việc giảm nhu cầu truyền máu đồng loại, các lợi ích tiềm năng bao gồm cung cấp được nhiều đơn vị hồng cầu hơn so với các kỹ thuật bảo tồn máu khác, và trong một số trường hợp, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí. (Xem thêm mục ‘Lợi ích’ ở dưới.)
Chống chỉ định
- Tuyệt đối – Chống chỉ định tuyệt đối bao gồm sự hiện diện của các dung dịch nhược trương (ví dụ: nước cất vô trùng) hoặc các chất độc hại (ví dụ: cồn, hydrogen peroxide hoặc dung dịch povidone-iodine), hoặc khi có khả năng thu thập đồng thời các tác nhân cầm máu sinh học (các sản phẩm gốc collagen vi sợi, thrombin tại chỗ, keo fibrin) hoặc methyl methacrylate (xi măng xương). Việc sử dụng acid tranexamic tại chỗ (hoặc đường tĩnh mạch) không phải là chống chỉ định đối với thu hồi tế bào. (Xem thêm mục ‘Chống chỉ định tuyệt đối’ ở dưới.)
- Tương đối – Chống chỉ định tương đối bao gồm nhiễm khuẩn hệ thống, nhiễm bẩn vết mổ hoặc ung thư đang tiến triển. Việc quyết định sử dụng cần được cá thể hóa. (Xem thêm mục ‘Chống chỉ định tương đối’ ở dưới.)
Các vấn đề chưa rõ ràng
Mặc dù được áp dụng cho một số bệnh nhân có các tình trạng sau, nhưng việc nghiên cứu về lợi ích so với rủi ro vẫn đang được tiếp tục (xem mục ‘Các vấn đề chưa rõ ràng’ ở dưới):
- Nguy cơ băng huyết sau sinh trong phẫu thuật lấy thai
- Bệnh lý huyết sắc tố (Hemoglobinopathies)
- Bệnh ngưng kết lạnh (Cold agglutinin disease)
Biến chứng tiềm tàng
Các biến chứng tiềm tàng của thu hồi máu bao gồm một số biến chứng truyền máu tương tự như truyền máu đồng loại (ví dụ: rối loạn đông máu do pha loãng, quá tải tuần hoàn do truyền máu, nhiễm khuẩn và thuyên tắc khí, thuyên tắc vi tập hợp tế bào hoặc thuyên tắc mỡ), nhưng không có nguy cơ phản ứng dị ứng hoặc đồng miễn dịch. (Xem thêm mục ‘Biến chứng tiềm tàng’ ở dưới.)
Công nghệ và quy trình xử lý
Quy trình xử lý máu thu hồi trong phẫu thuật bao gồm (hình 1) (xem mục ‘Công nghệ và các bước thực hiện’ ở dưới):
- Hút máu – Máu chảy từ phẫu trường được hút và trộn với chất chống đông (thường là heparin). (Xem thêm mục ‘Hút máu từ phẫu trường’ ở dưới.)
- Ly tâm và rửa – Thiết bị thu hồi tế bào sẽ lọc, ly tâm và rửa máu đã hút để tách và cô đặc hồng cầu, đồng thời loại bỏ chất chống đông, heme tự do và các chất gây huyết khối như stroma tế bào. Hồng cầu rửa thu hồi có thời gian sống sau truyền tương đương với các sản phẩm hồng cầu rửa truyền thống, nhưng thiếu tiểu cầu, bạch cầu và các yếu tố đông máu. (Xem thêm mục ‘Ly tâm cô đặc hồng cầu’ và ‘Rửa’ ở dưới.)
- Máu toàn phần không rửa – Trong những tình huống hiếm gặp (ví dụ: mất máu nhanh và kéo dài >500 mL/phút), máu thu hồi có thể được truyền lại mà không qua xử lý. Rủi ro bao gồm việc truyền chất chống đông còn sót lại, tiểu cầu bị rối loạn chức năng, các chất gây huyết khối, hemoglobin tự do và có thể có mỡ, dẫn đến bất thường đông máu và/hoặc thuyên tắc mỡ.
- Truyền lại – Một bộ lọc vi tập hợp 40 micron được sử dụng trong quá trình truyền lại (bảng 1). Bộ lọc giảm bạch cầu là một lựa chọn thay thế nếu cần loại bỏ tối ưu vi khuẩn, tế bào ung thư, hạt mỡ hoặc nước ối. (Xem thêm mục ‘Truyền lại’ ở dưới.)
- Bảo quản – Máu thu hồi trong phẫu thuật chỉ được truyền cho chính bệnh nhân đó; tuyệt đối không được truyền cho bất kỳ bệnh nhân nào khác. Máu thu hồi có thể được dán nhãn và bảo quản ở nhiệt độ phòng trong tối đa 6 giờ, hoặc từ 1 đến 6°C trong tối đa 24 giờ nếu được thu thập trong điều kiện vô trùng bằng thiết bị có chức năng rửa và nếu việc bảo quản lạnh được bắt đầu trong vòng 6 giờ sau khi thu thập. (Xem thêm mục ‘Bảo quản và xử lý’ ở dưới.)