TÓM TẮT
Tổng quan về các biến chứng – Biến chứng liên quan đến phẫu thuật thay khớp háng toàn phần (THA) ít gặp. Khi xảy ra, việc chẩn đoán và điều trị thường tương đối đơn giản. Các biến chứng có thể được chia thành nhóm xảy ra trong giai đoạn chu phẫu và nhóm xảy ra muộn hơn. Biến chứng chu phẫu thường liên quan đến quá trình thực hiện phẫu thuật, trong khi các biến chứng muộn thường liên quan đến phục hồi chức năng, quá trình liền thương và sự mài mòn của khớp nhân tạo. (Xem thêm ‘Giới thiệu’, ‘Biến chứng chu phẫu’ và ‘Biến chứng trung hạn và dài hạn’ ở dưới.)
Biến chứng phẫu thuật – Biến chứng phẫu thuật bao gồm gãy xương và tổn thương thần kinh – mạch máu. Những vấn đề này thường có thể phòng ngừa được thông qua việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình phẫu thuật chuẩn. Sự chênh lệch chiều dài chi thường được xử lý ngay trong khi phẫu thuật THA; tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn còn chênh lệch nhẹ, khi đó việc sử dụng miếng lót tăng chiều cao giày sẽ giúp hạn chế khó khăn khi vận động. Trong quá trình đặt chuôi khớp đùi có xi măng, một số bệnh nhân có thể gặp tình trạng hạ huyết áp thoáng qua hoặc nghiêm trọng hơn do hội chứng thuyên tắc xi măng xương (bone cement implantation syndrome); hướng điều trị là điều trị hỗ trợ. (Xem thêm ‘Gãy xương trong phẫu thuật’, ‘Tổn thương thần kinh’, ‘Tổn thương mạch máu’, ‘Chênh lệch chiều dài chi’ và ‘Hội chứng thuyên tắc xi măng xương’ ở dưới.)
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch – Bệnh nhân phẫu thuật THA thuộc nhóm có nguy cơ cao nhất gặp thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE), do đó khuyến cáo cần dự phòng chu phẫu bằng cả phương pháp cơ học và dược lý. Các yếu tố nguy cơ gây VTE tương tự như ở các nhóm quần thể khác. (Xem thêm ‘Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch’ ở dưới, cùng các bài “Phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người trưởng thành phẫu thuật điều trị gãy cổ xương đùi hoặc thay khớp háng, khớp gối” và “Tổng quan về nguyên nhân gây huyết khối tĩnh mạch ở người trưởng thành”.)
Nhiễm trùng vết mổ – Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ (SSI) sau THA được báo cáo từ 0,4% đến 2,2%.
- Nhiễm trùng vết mổ nông xảy ra trong giai đoạn chu phẫu, có thể đáp ứng với điều trị tại chỗ và kháng sinh, nhưng có khả năng tiến triển lan sâu vào các lớp mô. Cần lưu ý rằng mặc dù các biện pháp chu phẫu đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa SSI, nhưng vẫn có các yếu tố khác dẫn đến nhiễm trùng khớp nhân tạo (PJI) khởi phát muộn (ví dụ: do vi sinh vật độc lực thấp/phát triển chậm hoặc lan truyền theo đường máu).
- Nhiễm trùng vết mổ sâu và PJI đôi khi có thể điều trị thành công bằng kháng sinh kết hợp với phẫu thuật cắt lọc và giữ lại khớp nhân tạo (DAIR). Tuy nhiên, nếu khớp nhân tạo bị lỏng hoặc tình trạng nhiễm trùng đã lan rộng, thường phải tháo bỏ khớp. Việc đặt lại khớp có thể thực hiện ngay trong cùng một lần phẫu thuật hoặc trì hoãn cho đến khi tình trạng nhiễm trùng được kiểm soát hoàn toàn bằng một liệu trình kháng sinh.
Biến chứng trung hạn và dài hạn – Các biến chứng liên quan đến phục hồi chức năng, sự tích hợp khớp và mài mòn khớp về lâu dài bao gồm: trật khớp háng nhân tạo, tiêu xương, lỏng khớp vô khuẩn, gãy xương quanh khớp nhân tạo và hỏng khớp. Mặc dù có những nguy cơ này, đa số bệnh nhân không bao giờ cần phải phẫu thuật thay lại khớp. (Xem thêm ‘Trật khớp’, ‘Tiêu xương và mài mòn’, ‘Lỏng khớp vô khuẩn’, ‘Gãy xương quanh khớp nhân tạo’, ‘Hỏng khớp hoặc gãy thành phần khớp’ ở dưới và bài “Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần”, phần ‘Tuổi thọ của khớp nhân tạo’.)
Hệ quả từ mảnh mài mòn kim loại-kim loại – Biến chứng thường gặp nhất do mảnh mài mòn từ khớp kim loại-kim loại (MOM) là phản ứng mô tại chỗ bất lợi (ALTR), có thể dẫn đến hình thành khối quanh khớp nhân tạo bao gồm tăng dịch khớp, dày màng hoạt dịch và/hoặc hoại tử mô tại chỗ. Một biến chứng khác là trunnionosis, xảy ra do hiện tượng ăn mòn do ma sát (fretting corrosion) tại cổ chuôi khớp đùi (vị trí chuôi khớp đùi tiếp giáp với chỏm khớp); điều này có thể dẫn đến hỏng cổ chuôi khớp. (Xem thêm ‘Hệ quả từ mảnh mài mòn kim loại-kim loại’ ở dưới.)
Cốt hóa lạc chỗ – Quá trình liền thương sau mổ có thể gặp biến chứng do sự hình thành xương lạc chỗ trong các mô mềm xung quanh khung xương, được gọi là hiện tượng cốt hóa lạc chỗ (HO). Sau THA, HO thường xuất hiện quanh cổ xương đùi và vùng lân cận mấu chuyển lớn. HO dễ dàng được chẩn đoán qua X-quang quy ước; mặc dù nhiều bệnh nhân không có triệu chứng, nhưng nếu triệu chứng trở nên nghiêm trọng, có thể cần phẫu thuật cắt bỏ các tổn thương này. (Xem thêm ‘Cốt hóa lạc chỗ’ ở dưới.)