TÓM TẮT
Các thể bệnh và dịch tễ học
- Các thể bệnh: Lao hệ thần kinh trung ương (CNS TB) bao gồm viêm màng não lao, u lao (tuberculoma), viêm màng nhện tủy và viêm tủy ngang.
- Dịch tễ học: Tại những vùng có tỷ lệ mắc lao cao và tình trạng lan tỏa sau giai đoạn nguyên phát phổ biến ở trẻ em và người trẻ tuổi, tất cả các thể lao hệ thần kinh trung ương (viêm màng não lao, u lao nội sọ, viêm màng nhện tủy và viêm tủy ngang) đều được ghi nhận tương đối thường xuyên. Ở những vùng có tỷ lệ mắc lao thấp, các biểu hiện lao ngoài phổi chủ yếu gặp ở người trưởng thành trong thể tái hoạt, và thể bệnh phổ biến nhất ở hệ thần kinh trung ương là viêm màng não. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Viêm màng não lao: Các vấn đề liên quan đến viêm màng não lao được thảo luận riêng biệt. (Xem “Viêm màng não lao: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)
U lao (Tuberculoma)
- Biểu hiện lâm sàng: U lao là một ổ hạt tập hợp hình thành từ sự hợp nhất của các hạt lao trong quá trình nhiễm khuẩn huyết lan tỏa. U lao thường gặp nhất ở não, ngoài ra cũng có thể xuất hiện ở tủy sống. Bệnh có thể biểu hiện rõ rệt (đau đầu, co giật, liệt nửa người tiến triển và/hoặc các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ) hoặc không có triệu chứng, và có thể đi kèm hoặc không đi kèm với viêm màng não. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán: Chẩn đoán nghi ngờ u lao có thể được đặt ra dựa trên các yếu tố lâm sàng, dịch tễ liên quan và hình ảnh học điển hình (hình 1), đặc biệt nếu đã xác định được chẩn đoán lao chắc chắn tại một vị trí ngoài hệ thần kinh. Chẩn đoán xác định được thực hiện thông qua sinh thiết kim tổn thương hệ thần kinh trung ương để làm giải phẫu bệnh, nhuộm kháng acid (AFB) và nuôi cấy; tuy nhiên, cần tránh can thiệp phẫu thuật vì có thể khởi phát viêm màng não. Ngoài ra, chọc dò thắt lưng thường được hạn chế do lo ngại tăng áp lực nội sọ và nguy cơ thoát vị thân não. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Viêm màng nhện tủy
- Biểu hiện lâm sàng: Viêm màng nhện tủy phát triển từ sự phá vỡ các ổ hạt trong tủy sống hoặc màng não; trong những trường hợp này, tủy sống và các rễ thần kinh bị bao bọc bởi các chất tiết lao. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ mức độ nào của tủy sống, hoặc lan rộng từ một vùng viêm đốt sống liền kề. Bệnh nhân viêm màng nhện tủy thường khởi phát bán cấp với các dấu hiệu chèn ép rễ thần kinh và tủy sống; những biểu hiện này có thể xuất hiện trước, đồng thời hoặc sau (vài tháng hoặc vài năm) đợt viêm màng não lao ban đầu. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán: Chẩn đoán nghi ngờ viêm màng nhện tủy dựa trên hình ảnh học điển hình (chụp cộng hưởng từ tủy sống cho thấy viêm màng nhện dạng nốt) và xét nghiệm dịch não tủy (protein dịch não tủy tăng cao bất thường, có hoặc không kèm tăng tế bào), đặc biệt nếu đã có chẩn đoán lao xác định ở vị trí ngoài hệ thần kinh. Trong trường hợp không có viêm màng não, chẩn đoán xác định viêm màng nhện tủy được thực hiện qua sinh thiết kim tổn thương để làm giải phẫu bệnh, nhuộm AFB và nuôi cấy. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Viêm tủy ngang
- Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân viêm tủy lao biểu hiện hội chứng tủy ngang cấp tính bao gồm rối loạn vận động, cảm giác và/hoặc thần kinh thực vật. Triệu chứng vận động bao gồm liệt hai chi dưới hoặc liệt tứ chi. Triệu chứng cảm giác bao gồm đau, dị cảm và tê bì; mức cảm giác có thể được xác định ở hầu hết bệnh nhân. Triệu chứng thần kinh thực vật có thể bao gồm mót tiểu, tiểu không tự chủ/són phân, khó tiểu, đại tiện không hết và rối loạn chức năng tình dục. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán: Chẩn đoán có thể được xác lập dựa trên hình ảnh học cho thấy viêm tủy sống (không có chèn ép tủy), dịch não tủy cho thấy tình trạng viêm và bằng chứng bệnh lao [ngoài hệ thần kinh trung ương (như nhuộm AFB đờm dương tính, nuôi cấy AFB hoặc xét nghiệm khuếch đại acid nucleic – NAAT), và/hoặc trong hệ thần kinh trung ương (như nhuộm AFB dịch não tủy dương tính, nuôi cấy AFB hoặc NAAT)]. Tuy nhiên, chẩn đoán xác định có thể gặp khó khăn do độ nhạy và độ đặc hiệu của các công cụ chẩn đoán chưa tối ưu. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)