Tiêm phòng virus gây u nhú ở người (HPV)

TÓM TẮT

Các loại vắc-xin hiện có – Có ba loại vắc-xin phòng virus gây u nhú ở người (HPV) đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt, mặc dù không phải tất cả các loại đều có sẵn ở mọi khu vực:

  • Vắc-xin HPV tứ giá (Gardasil, Cervavac): phòng các type 6, 11, 16 và 18.
  • Vắc-xin HPV 9 giá (Gardasil 9): phòng các type 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58.
  • Vắc-xin HPV nhị giá (Cervarix, Cecolin, Walrinvax): phòng các type 16 và 18.

Tại Hoa Kỳ, chỉ có vắc-xin 9 giá được lưu hành từ cuối năm 2016. (Xem thêm mục ‘Các vaccine hiện có’ ở dưới.)

Cơ sở lý luận cho việc tiêm chủng – Tiêm vắc-xin HPV 9 giá, tứ giá hoặc nhị giá mang lại lợi ích trực tiếp cho cả nam và nữ thông qua việc bảo vệ an toàn trước các bệnh ung thư (ví dụ: ung thư vòm họng, âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, dương vật và hậu môn) vốn là hệ quả của tình trạng nhiễm HPV nguy cơ cao kéo dài. Vắc-xin tứ giá và 9 giá còn giúp phòng ngừa sùi mào gà vùng anogenital. Mặc dù gánh nặng bệnh tật do HPV ở nam giới thấp hơn nữ giới, khiến lợi ích tuyệt đối trực tiếp ở nam giới nhỏ hơn, nhưng việc chỉ tiêm chủng cho nữ giới không mang lại lợi ích gián tiếp đầy đủ cho nam giới; do đó, tiêm chủng cho nam giới sẽ tạo thêm lợi ích cộng đồng thông qua miễn dịch cộng đồng. (Xem thêm mục ‘Cơ sở lý luận’ ở dưới.)

Tiêm chủng cho đối tượng ≤26 tuổi – Theo hướng dẫn của Ủy ban Cố vấn về Thực hành Tiêm chủng (ACIP) tại Hoa Kỳ, chúng tôi khuyến cáo tiêm chủng HPV định kỳ cho nữ giới (Khuyến cáo 1A) và nam giới (Khuyến cáo 1B) trong các nhóm tuổi sau:

  • Vắc-xin HPV nên được tiêm vào lúc 11 đến 12 tuổi. Có thể bắt đầu tiêm từ lúc 9 tuổi.
  • Đối với thanh thiếu niên và người trưởng thành từ 13 đến 26 tuổi chưa từng tiêm chủng hoặc chưa hoàn thành phác đồ, khuyến cáo thực hiện tiêm chủng bù (catch-up vaccination).
  • Thời điểm tối ưu để tiêm chủng HPV là trước khi bắt đầu có quan hệ tình dục. (Xem thêm mục ‘Chỉ định và độ tuổi’‘Thời điểm tối ưu’ ở dưới.)

Tiêm chủng cho đối tượng >26 tuổi – Đối với hầu hết bệnh nhân trên 26 tuổi, chúng tôi không khuyến cáo tiêm chủng bù (Khuyến cáo 2C), vì đa số cá nhân trong độ tuổi này đã từng tiếp xúc với HPV, khiến vắc-xin ít có khả năng hỗ trợ tạo miễn dịch. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ vẫn được chỉ định tiêm chủng sau 26 tuổi:

  • Người trưởng thành từ 27 đến 45 tuổi chưa từng tiêm chủng, có khả năng thấp từng tiếp xúc với HPV (ví dụ: chưa từng quan hệ tình dục hoặc có rất ít bạn tình) nhưng có nguy cơ tiếp xúc với HPV trong tương lai (ví dụ: có bạn tình mới).
  • Nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc với HPV trong hơi nước phát sinh trong quá trình phẫu thuật cắt bỏ hoặc đốt các tổn thương do HPV (ví dụ: bác sĩ và nhân viên phòng mổ, phòng khám chuyên khoa phụ khoa, da liễu và y học gia đình).

Lựa chọn vắc-xin – Nếu chi phí và khả năng tiếp cận không phải là rào cản, chúng tôi khuyến cáo sử dụng vắc-xin HPV 9 giá thay vì các loại vắc-xin HPV khác (Khuyến cáo 1B). (Xem thêm mục Lựa chọn vắc-xin ở dưới.)

Phác đồ tiêm chủng

  • Đối với người có hệ miễn dịch bình thường bắt đầu phác đồ tiêm vắc-xin HPV trước 15 tuổi, chúng tôi đề xuất phác đồ 2 liều thay vì 3 liều (Khuyến cáo 2C). Ở những bệnh nhân này, hai liều được tiêm cách nhau ít nhất 6 tháng. (Xem thêm mục Lịch tiêm chủng ở dưới.)
  • Đối với người bắt đầu phác đồ tiêm vắc-xin HPV từ 15 tuổi trở lên, vắc-xin được tiêm 3 liều vào thời điểm 0, từ 1-2 tháng và 6 tháng.
  • Bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bất kể độ tuổi, cũng nên nhận phác đồ 3 liều.
  • Các khuyến cáo này nhất quán với hướng dẫn của ACIP. (Xem thêm mục Lịch tiêm chủng ở dưới.)
  • Phác đồ một liều đã được áp dụng tại một số quốc gia nhưng hiện chưa phải là tiêu chuẩn thực hành tại Hoa Kỳ.

Tiêm chủng trong thời kỳ mang thai – Tiêm vắc-xin HPV trong thai kỳ thường được tránh do thông tin về an toàn còn hạn chế; tuy nhiên, các dữ liệu từ những trường hợp vô tình tiêm chủng trong giai đoạn này ngày càng nhiều và cho thấy kết quả an tâm. (Xem thêm mục Bệnh nhân đang mang thai hoặc cho con bú ở dưới.)

Tính sinh miễn dịch và hiệu quả

Tính sinh miễn dịch – Đáp ứng kháng thể xuất sắc đã được ghi nhận sau khi tiêm vắc-xin 9 giá, tứ giá và nhị giá, với tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh từ 93% đến 100% ở nữ giới và 99% đến 100% ở nam giới. Hiệu giá kháng thể tạo ra thường cao hơn ở người trẻ so với người lớn tuổi. (Xem thêm mục Khả năng gây đáp ứng miễn dịch ở dưới.)

Hiệu quả – Các thử nghiệm đa trung tâm, mù đôi, kiểm soát bằng giả dược đã chứng minh hiệu quả của vắc-xin HPV trong việc phòng ngừa tân sinh nội biểu mô mới xuất hiện và kéo dài, sùi mào gà và nhiễm HPV. Hiệu quả cũng được thể hiện qua việc giảm đáng kể tỷ lệ sùi mào gà, tổn thương tiền ung thư cổ tử cung và ung thư trong các quần thể được tiêm chủng. (Xem thêm mục Hiệu quả ở dưới.)

An toàn của vắc-xin – Dữ liệu từ cả các thử nghiệm đăng ký và hệ thống giám sát an toàn sau cấp phép cho thấy vắc-xin an toàn và dung nạp tốt, ngoại trừ các phản ứng nhẹ tại vị trí tiêm. Hiện tượng ngất sau tiêm chủng đã xuất hiện như một tác dụng phụ nghiêm trọng tiềm tàng, mặc dù điều này không chỉ đặc thù riêng cho vắc-xin HPV. (Xem thêm mục An toàn vắc-xin ở dưới.)

Vắc-xin không phải là phương pháp điều trị nhiễm HPV – Các lâm sàng viên cần lưu ý rằng tiêm chủng HPV không có hiệu quả trong việc loại bỏ tình trạng nhiễm HPV, sùi mào gà hoặc tân sinh nội biểu mô anogenital đã hiện hữu. Tình trạng tiêm chủng HPV không làm thay đổi các khuyến cáo về tầm soát ung thư cổ tử cung. (Xem thêm mục Tầm quan trọng của sàng lọc ung thư ở dưới và “Sàng lọc ung thư cổ tử cung: Lợi ích, tác hại, phương pháp sàng lọc và các nhóm bệnh nhân có nguy cơ”, phần ‘Người tiêm vaccine HPV’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here