Điều trị nhiễm Herpes simplex sinh dục

TÓM TẮT

Tác nhân gây bệnh – Herpes sinh dục là một tình trạng nhiễm virus lây truyền qua đường tình dục phổ biến trên toàn thế giới. Đa số các trường hợp nhiễm trùng sinh dục này do virus herpes simplex type 2 (HSV-2) gây ra, tuy nhiên virus herpes simplex type 1 (HSV-1) cũng gây ra bệnh lý có biểu hiện lâm sàng tương tự và tỷ lệ mắc herpes sinh dục do HSV-1 đang có xu hướng gia tăng. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Đợt khởi phát đầu tiên – Đối với hầu hết bệnh nhân gặp đợt khởi phát herpes sinh dục lần đầu, chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp kháng virus (Khuyến cáo 1B). Điều trị kháng virus giúp rút ngắn thời gian và giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh từ vài ngày đến vài tuần với tác dụng phụ tối thiểu, đồng thời làm giảm sự xuất hiện của các tổn thương mới. Lý tưởng nhất là nên bắt đầu điều trị trong vòng 72 giờ kể từ khi tổn thương xuất hiện. (Xem ‘Chỉ định’ ở dưới.)

Hầu hết bệnh nhân có thể điều trị bằng đường uống. Chúng tôi ưu tiên sử dụng valacyclovir đường uống (1000 mg x 2 lần/ngày trong 7 đến 10 ngày) hơn là acyclovir hoặc famciclovir. Cả ba thuốc này đều có hiệu quả tương đương, độ an toàn và khả năng dung nạp tốt; tuy nhiên, valacyclovir có tần suất dùng thuốc ít hơn. (Xem ‘Lựa chọn phác đồ và thời gian điều trị’ ở dưới.)

Liệu pháp đường tiêm/truyền nên được dành riêng cho những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng hoặc biến chứng nặng (ví dụ: tổn thương dây thần kinh vùng xương cùng dẫn đến bí tiểu, viêm gan, viêm màng não). Liều acyclovir truyền tĩnh mạch cuối cùng và thời gian điều trị cụ thể cần được điều chỉnh tùy theo tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân. (Xem ‘Xem xét trong nhiễm trùng biến chứng’ ở dưới.)

Nhiễm trùng tái phát – Phương pháp điều trị nhiễm trùng sinh dục tái phát cần được quyết định cho từng trường hợp cụ thể, trong đó nguyện vọng của bệnh nhân là yếu tố quan trọng cần được cân nhắc. (Xem ‘Các lựa chọn điều trị’‘Lựa chọn chiến lược điều trị’ ở dưới.)

Liệu pháp ức chế – Nhìn chung, chúng tôi đề xuất liệu pháp ức chế mạn tính (ví dụ: dùng valacyclovir hàng ngày) cho các nhóm đối tượng sau (Khuyến cáo 2B) (xem ‘Liệu pháp ức chế’ ở dưới):

  • Bệnh nhân tái phát nặng hoặc thường xuyên (ví dụ: từ 6 lần/năm trở lên).
  • Bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường nhưng muốn giảm nguy cơ lây truyền HSV cho bạn tình chưa nhiễm virus.

Liệu pháp điều trị theo đợt – Những bệnh nhân tái phát ít nghiêm trọng hơn hoặc không thường xuyên, và những người không hoạt động tình dục, có thể lựa chọn liệu pháp điều trị theo đợt (dùng thuốc kháng virus cho từng đợt bùng phát, bắt đầu ngay khi có các dấu hiệu tiền triệu đầu tiên) hoặc không điều trị. (Xem ‘Liệu pháp điều trị theo đợt’ ở dưới.)

Không có vai trò của liệu pháp tại chỗ – Liệu pháp kháng virus tại chỗ không có vai trò trong điều trị herpes sinh dục vì lợi ích mang lại rất hạn chế và không cho thấy ưu thế nào khi phối hợp thuốc tại chỗ với thuốc đường uống. (Xem ‘Vai trò của liệu pháp tại chỗ’ ở dưới.)

Lưu ý đối với người nhiễm HIV – Bệnh nhân nhiễm HIV có thể gặp các đợt herpes sinh dục kéo dài hoặc nghiêm trọng hơn, đồng thời có nguy cơ phát triển chủng HSV kháng thuốc cao hơn so với người có hệ miễn dịch bình thường. Việc điều trị herpes sinh dục ở bệnh nhân nhiễm HIV được trình bày chi tiết ở một mục khác. (Xem “Điều trị virus herpes simplex type 2 ở người sống chung với HIV”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here