TÓM TẮT
Rối loạn tế bào mô bào – Bệnh mô bào Langerhans (LCH) là một bệnh lý tân sinh mô bào có nguồn gốc từ dòng tủy; bệnh không bắt nguồn từ các tế bào Langerhans ở biểu bì, mặc dù có hình thái tương tự. Dù hiếm gặp, LCH là bệnh lý tân sinh mô bào phổ biến nhất. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi. Hệ thống phân loại các rối loạn tế bào mô bào được trình bày ở trên. (Xem ‘Rối loạn tế bào mô bào’ ở dưới.)
Sinh lý bệnh – LCH là một rối loạn dòng vô tính được thúc đẩy bởi sự kích hoạt đường dẫn truyền tín hiệu MAPK-ERK, mở ra cơ hội điều trị cho một số bệnh nhân; đột biến BRAF V600E xuất hiện trong gần một nửa số trường hợp. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân dao động từ trẻ sơ sinh đến người trưởng thành. Triệu chứng, cơ quan tổn thương và tiến triển của bệnh rất đa dạng. LCH có thể biểu hiện tại một vị trí đơn độc hoặc nhiều vị trí trong một hệ cơ quan, hoặc xuất hiện ở nhiều hệ cơ quan cùng lúc hoặc nối tiếp nhau. Việc phân biệt giữa LCH đơn hệ thống và đa hệ thống có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng và quản lý điều trị.
- LCH đơn hệ thống – Tổn thương đơn ổ hoặc đa ổ tại xương, da, phổi và hệ thần kinh trung ương (CNS).
- LCH phổi đơn hệ thống – Tổn thương phổi đơn độc, hầu hết chỉ gặp ở người trưởng thành có tiền sử hút thuốc lá.
- LCH đa hệ thống – Có từ hai cơ quan/hệ cơ quan trở lên bị tổn thương. Đặc biệt quan trọng là phải xác định tổn thương ở các “cơ quan nguy cơ”: tủy xương, gan và lách, vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng và lựa chọn phác đồ điều trị.
Vị trí tổn thương – Các biểu hiện phổ biến nhất bao gồm: tổn thương tiêu xương (hình 1), phát ban dạng chàm hoặc sẩn (hình 2A), tổn thương tuyến yên gây thiếu hụt arginine vasopressin (AVP-D) và các tổn thương dạng nốt-nang ở phổi; chi tiết các dấu hiệu lâm sàng tại các cơ quan khác nhau đã được mô tả ở trên. (Xem ‘Các vị trí tổn thương cụ thể’ ở dưới.)
Đánh giá – Mức độ lan rộng của bệnh được đánh giá thông qua khai thác bệnh sử, khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và sinh thiết.
Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh nhân từ 1 tuổi trở lên nên được chụp PET/CT toàn thân với fluorodeoxyglucose (FDG). Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác được chỉ định tùy theo vị trí tổn thương; ví dụ: chụp cộng hưởng từ (MRI) cho các tổn thương não, hoặc chụp CT, MRI, siêu âm cho các triệu chứng ở bụng. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Giải phẫu bệnh – Phát hiện các tế bào Langerhans có CD68+, CD1a+, CD207+ (hình 6) trong một vùng thâm nhiễm viêm hỗn hợp. Sinh thiết tổn thương tiêu xương hoặc tổn thương da thường được ưu tiên lựa chọn. (Xem ‘Đặc điểm giải phẫu bệnh’ ở dưới.)
Xét nghiệm đột biến – Khuyến cáo thực hiện xét nghiệm đột biến mô cho BRAF V600E và các đột biến khác trong đường truyền MAPK (BRAF indels, MAP2K1/MEK, KRAS hoặc hợp nhất kinase).
Việc đánh giá và chẩn đoán LCH ở phổi được thảo luận riêng. (Xem “Bệnh mô bào Langerhans ở phổi”.)
Chẩn đoán – Cần nghi ngờ LCH ở bệnh nhân mọi lứa tuổi khi có tổn thương tiêu xương không rõ nguyên nhân, phát ban da, AVP-D, khối u tuyến yên, hoặc các triệu chứng hô hấp kèm theo nốt hoặc nang trong phổi.
Chẩn đoán được xác lập dựa trên bằng chứng giải phẫu bệnh về LCH trong bệnh cảnh có các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh gợi ý. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt thay đổi tùy theo biểu hiện lâm sàng. Nhìn chung, LCH cần được phân biệt với các rối loạn tế bào mô bào/tế bào gai khác, u đặc, tân sinh huyết học và/hoặc hội chứng thực bào lympho-mô bào/hội chứng kích hoạt đại thực bào thông qua các phát hiện lâm sàng, mô bệnh học và kiểu hình miễn dịch như đã mô tả ở trên. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)