TÓM TẮT
Tổng quan và cơ sở lý luận – Hóa trị bổ trợ trước phẫu thuật (NACT) là việc điều trị hệ thống trước khi tiến hành phẫu thuật triệt căn. Mục tiêu của NACT là nhằm giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong trong giai đoạn chu phẫu, đồng thời tăng khả năng phẫu thuật cắt giảm khối u tối đa tại thời điểm phẫu thuật giảm tải khối u (cytoreductive surgery). (Xem ‘Tổng quan và cơ sở lý luận’ ở dưới.)
Lựa chọn bệnh nhân – Đối với những bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng (EOC) không thể phẫu thuật dựa trên lâm sàng và ít có khả năng đạt được kết quả cắt giảm khối u tối ưu, chúng tôi chỉ định NACT (sơ đồ 1). NACT cũng được chỉ định cho những bệnh nhân EOC không đủ điều kiện phẫu thuật do có nhiều bệnh lý nền kèm theo hoặc chỉ số trạng thái cơ thể (performance status) kém, nhưng có khả năng dung nạp phẫu thuật sau khi hóa trị (bảng 1). (Xem ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
Vai trò của phẫu thuật nội soi chẩn đoán – Đối với phụ nữ mắc EOC giai đoạn III hoặc IV mà khả năng cắt giảm khối u hoàn toàn chưa rõ ràng, chúng tôi thực hiện phẫu thuật nội soi chẩn đoán để xác định khả năng phẫu thuật. (Xem ‘Vai trò của phẫu thuật nội soi chẩn đoán’ ở dưới.)
Lựa chọn phác đồ hóa trị – Đối với những bệnh nhân sẽ điều trị NACT, chúng tôi khuyến cáo sử dụng hóa trị phác đồ gốc platinum đường tĩnh mạch (IV) thay vì các phác đồ khác (Khuyến cáo 2B). Ưu tiên lựa chọn phối hợp carboplatin và paclitaxel, có hoặc không kèm theo bevacizumab, dựa trên hiệu quả của sự kết hợp này trong điều trị bổ trợ. (Xem “Hóa trị bước một cho ung thư biểu mô buồng trứng, vòi trứng và phúc mạc giai đoạn tiến triển (giai đoạn III hoặc IV)”.)
Đánh giá trong quá trình hóa trị bổ trợ trước phẫu thuật và các bước tiếp theo – Mặc dù chưa có hướng dẫn chính thức về chiến lược đánh giá lý tưởng cho bệnh nhân điều trị NACT, trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thực hiện đánh giá định kỳ bao gồm: khai thác bệnh sử, khám lâm sàng, xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu, sinh hóa máu (bao gồm chức năng gan và thận) và định lượng kháng nguyên ung thư (CA) 125 trước khi bắt đầu mỗi chu kỳ. (Xem ‘Lựa chọn phác đồ’ ở dưới.)
Chúng tôi đánh giá đáp ứng điều trị sau ba chu kỳ NACT.
Tiến hành phẫu thuật cắt giảm khối u đối với những bệnh nhân có khả năng cắt bỏ toàn bộ tổn thương còn lại (hoặc đạt được kết quả cắt giảm khối u tối ưu). Chúng tôi khuyến cáo quy trình này nên được thực hiện bởi phẫu thuật viên chuyên khoa ung thư phụ khoa được đào tạo bài bản.
Với những bệnh nhân điều trị NACT và sau đó đạt kết quả phẫu thuật tối ưu (tức là tổn thương còn lại < 1 cm), chúng tôi đề xuất hóa trị nóng trong ổ bụng (HIPEC) với cisplatin đơn trị liệu tại thời điểm phẫu thuật cắt giảm khối u (Khuyến cáo 2B), với điều kiện cơ sở y tế có đủ chuyên môn kỹ thuật. Việc không thực hiện HIPEC vẫn có thể chấp nhận được, đặc biệt tại các trung tâm thiếu chuyên môn hoặc nguồn lực phù hợp. (Xem ‘Hóa trị nóng trong ổ bụng trong phẫu thuật’ ở dưới.)
Đối với những bệnh nhân có bệnh tiến triển trong quá trình NACT, hoặc tiếp tục không có khả năng đạt được kết quả cắt giảm khối u tối ưu sau ba chu kỳ NACT, chúng tôi đề xuất điều trị nội khoa (Khuyến cáo 2C) thay vì tiếp tục thêm các chu kỳ NACT rồi mới phẫu thuật. Chúng tôi áp dụng phác đồ tương tự như điều trị cho bệnh nhân EOC kháng platinum. (Xem “Điều trị nội khoa cho ung thư biểu mô buồng trứng, vòi trứng hoặc phúc mạc tái phát: Bệnh kháng platinum”.)
Tuy nhiên, một số chuyên gia khác cân nhắc việc tiếp tục thêm các chu kỳ điều trị bổ trợ trước phẫu thuật và đánh giá lại khả năng phẫu thuật đối với những bệnh nhân có đáp ứng một phần với NACT.
Điều trị sau phẫu thuật – Sau phẫu thuật, chúng tôi khuyến cáo sử dụng hóa trị bổ trợ gốc platinum thay vì không điều trị thêm (Khuyến cáo 2C). Chúng tôi đề xuất hóa trị đường tĩnh mạch (IV) thay vì phác đồ kết hợp điều trị trong ổ bụng (Khuyến cáo 2C). Ưu tiên sử dụng carboplatin và paclitaxel từ ba đến sáu chu kỳ. (Xem ‘Điều trị bổ trợ ở bệnh nhân điều trị bằng NACT’ ở dưới.)