TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh – Hội chứng Muir-Torre là một bệnh lý di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp, gây ra bởi các biến thể gây bất hoạt dòng mầm trong các gene sửa chữa sai sót DNA (MMR) bao gồm MLH1, MSH2, MSH6 và PMS2. Ở khoảng một phần ba bệnh nhân, hội chứng Muir-Torre tuýp 2 liên quan đến sự bất hoạt cả hai alen dòng mầm của gene sửa chữa cắt bỏ base MUTYH và được di truyền theo cơ chế lặn trên nhiễm sắc thể thường. (Xem thêm mục ‘Cơ chế bệnh sinh’ và ‘Các biến thể gene MUTYH’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Hội chứng Muir-Torre đặc trưng bởi sự kết hợp giữa ít nhất một u tuyến bã da và ít nhất một bệnh lý ác tính tạng; đây được xem là một biến thể kiểu hình của hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp (hội chứng Lynch). Các u da điển hình thường gặp trong hội chứng Muir-Torre bao gồm u tuyến bã (hình 2A), u biểu mô tuyến bã, ung thư biểu mô tuyến bã (hình 2B) và u sừng gai (hình 1). Các khối u tạng bao gồm ung thư đại trực tràng, nội mạc tử cung, buồng trứng và biểu mô đường niệu. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới và “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp): Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán hội chứng Muir-Torre dựa trên sự kết hợp giữa các tiêu chuẩn lâm sàng, xét nghiệm khối u để tìm tình trạng thiếu hụt protein MMR hoặc mất ổn định vi vệ tinh (MSI), và xét nghiệm di truyền để tìm các biến thể dòng mầm trong các gene MMR (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Tiếp cận chẩn đoán’, ‘Tiêu chuẩn lâm sàng (thang điểm nguy cơ hội chứng Muir-Torre của Mayo)’ và ‘Xét nghiệm khối u’ ở dưới.)
Tầm soát ung thư – Bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng Muir-Torre và những thành viên trong gia đình có nguy cơ (người thân độ một) cần thực hiện chương trình tầm soát ung thư dự phòng. Cụ thể, tầm soát ung thư đại trực tràng bắt đầu từ 20 đến 25 tuổi (hoặc sớm hơn nếu trong gia đình có người chẩn đoán ung thư đại trực tràng trước 25 tuổi); tầm soát ung thư dạ dày và đường tiết niệu – sinh dục bắt đầu từ 30 đến 35 tuổi, tương tự như chỉ định cho bệnh nhân mắc hội chứng Lynch. (Xem thêm mục ‘Tầm soát ung thư’ ở dưới và “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp): Tầm soát và quản lý ung thư”.)
Quản lý ung thư
- Ung thư biểu mô tuyến bã
- Phẫu thuật cắt bỏ bằng phương pháp vi đồ Mohs hoặc phẫu thuật cắt bỏ kèm đánh giá toàn diện diện cắt chu vi và chiều sâu (CCPDMA) là lựa chọn điều trị hàng đầu cho ung thư biểu mô tuyến bã vùng đầu mặt cổ (bao gồm cả các khối u quanh hốc mắt). Đối với các khối u ở vùng khác như thân mình, có thể điều trị bằng phẫu thuật cắt rộng tại chỗ với diện cắt 1 cm đến tận màng fascia sâu. (Xem mục “Ung thư biểu mô tuyến bã”, phần ‘Điều trị phẫu thuật’.)
- Xạ trị có thể được sử dụng làm phương pháp điều trị chính cho cả u quanh hốc mắt và ngoài hốc mắt ở những bệnh nhân không có chỉ định phẫu thuật hoặc những bệnh nhân có khối u/di căn hạch không thể phẫu thuật cắt bỏ. (Xem mục “Ung thư biểu mô tuyến bã”, phần ‘Điều trị phẫu thuật’ và “Ung thư biểu mô tuyến bã”, phần ‘Xạ trị’.)
- Hiện chưa có phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến bã giai đoạn tiến triển, không thể phẫu thuật hoặc đã di căn. Việc quản lý những bệnh nhân này cần được thảo luận trong hội đồng đa chuyên khoa về u. (Xem mục “Ung thư biểu mô tuyến bã”, phần ‘Di căn hạch và di căn xa’.)
- Ung thư tạng
Các khối u tạng xuất hiện đồng thời hoặc nối tiếp trong hội chứng Muir-Torre nên được quản lý cho từng bệnh nhân cụ thể theo các lựa chọn điều trị hiện có, được thảo luận chi tiết trong các bài review chuyên đề riêng biệt. (Xem “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp): Tầm soát và quản lý ung thư”.)