Tình huống
Một nam giới 48 tuổi được vợ đưa đến khoa cấp cứu vì tình trạng lú lẫn và lờ đờ ngày càng tăng trong 3 ngày qua. Bệnh nhân cho biết có tình trạng giảm lượng nước tiểu và đau bụng trong một tháng gần đây. Hai tháng trước, ông nhập viện vì viêm bể thận và được điều trị bằng ceftriaxone. Bệnh nhân có tiền sử viêm gan C mạn tính và hiện không sử dụng thuốc nào. Bệnh nhân trông nhợt nhạt và dễ kích động. Nhiệt độ 37,00°C, mạch 90 lần/phút và huyết áp 98/60 mm Hg. Khi thăm khám trạng thái tâm thần, bệnh nhân định hướng được bản thân nhưng không định hướng được thời gian và không gian. Khám thực thể cho thấy củng mạc mắt vàng và vàng da. Có phù ấn lõm 2+ ở hai chi dưới. Bụng chướng với dấu hiệu sóng vỗ dương tính. Kết quả xét nghiệm cho thấy:
- Hemoglobin: 10,1 g/dL
- Số lượng bạch cầu: 4300/mm3
- Số lượng tiểu cầu: 89.000/mm3
- Thời gian prothrombin: 19 giây
- Nitơ urê máu (BUN): 71 mg/dL
- Glucose: 99 mg/dL
- Creatinine: 3,5 mg/dL
- ALT: 137 U/L
- AST: 154 U/L
Xét nghiệm nước tiểu không thấy bất thường. FENa < 1%. Siêu âm thận không ghi nhận bất thường. Bệnh nhân được truyền dịch tĩnh mạch trong 36 giờ nhưng lượng nước tiểu không cải thiện. Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra rối loạn chức năng thận ở bệnh nhân này?