Một bệnh nhân nam 74 tuổi được đưa đến khoa cấp cứu từ cơ sở chăm sóc hỗ trợ do tình trạng lú lẫn tiến triển, giảm ăn uống và lờ đờ trong ba ngày qua (S11494)

Tình huống

Một bệnh nhân nam 74 tuổi được đưa đến khoa cấp cứu từ cơ sở chăm sóc hỗ trợ do tình trạng lú lẫn tiến triển, giảm ăn uống và lờ đờ trong ba ngày qua. Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân bao gồm bệnh Parkinson, tăng huyết áp và phì đại tuyến tiền liệt lành tính. Nhân viên chăm sóc báo cáo rằng bệnh nhân thường xuyên được bơm rửa bàng quang do ống thông Foley dẫn lưu kém. Họ cũng lưu ý rằng bệnh nhân bị sốt nhẹ và rét run từ ngày hôm qua. Khi nhập viện, bệnh nhân mất định hướng và đáp ứng tối thiểu với các kích thích bằng lời nói. Nhiệt độ 38,6°C, huyết áp 88/48 mm Hg, và mạch 112 lần/phút. Nhịp thở 18 lần/phút, và độ bão hòa oxy 95% với khí trời. Tĩnh mạch cổ xẹp, nếp véo da kém. Nghe phổi thấy rì rào phế nang giảm nhưng không có rale khu trú. Bụng mềm, không đau.

Hematocrit: [Không cung cấp]
Số lượng bạch cầu: 16.000/mm3 (85% bạch cầu trung tính, 5% bạch cầu non)
Natri huyết thanh: 132 mEq/L
Kali huyết thanh: 4,0 mEq/L
Clo: 88 mEq/L
Bicarbonate: 22 mEq/L
Nitơ urê máu (BUN): 14 mg/dL
Creatinine: 1,0 mg/dL

Điện tâm đồ (ECG) cho thấy nhịp nhanh xoang với những bất thường nhẹ ở đoạn ST-T. Điều nào sau đây là giải thích khả thi nhất cho tình trạng tụt huyết áp của bệnh nhân này?