Tình huống
Bệnh nhân nam, 54 tuổi, đến khoa cấp cứu vì sốt, ớn lạnh và đau họng trong một ngày. Bệnh nhân không có các triệu chứng hô hấp trên, tiết niệu hoặc tiêu hóa khác. Tiền sử bệnh bao gồm xơ gan do lạm dụng rượu. Bệnh nhân từng nhập viện 3 tuần trước để điều trị viêm phúc mạc tự phát do vi khuẩn (SBP) và bệnh não gan. Kể từ khi xuất viện, bệnh nhân được chỉ định dùng lactulose và trimethoprim-sulfamethoxazole để dự phòng. Bệnh nhân chưa bỏ được rượu nhưng đã giảm lượng uống. Ghi nhận lúc nhập viện: nhiệt độ 38,8°C, huyết áp 116/68 mmHg, mạch 98 lần/phút và nhịp thở 18 lần/phút. Khám thực thể cho thấy niêm mạc họng đỏ và loét, không có mủ hoặc sưng amidan, không sờ thấy hạch cổ. Phổi trong, bụng không có điểm đau. Kết quả xét nghiệm như sau:
- Hemoglobin: 11,8 g/dL
- Thể tích trung bình hồng cầu (MCV): 102 µm³
- Tiểu cầu: 105.000/mm³
- Bạch cầu (WBC): 1.500/mm³
- Bạch cầu trung tính (Neutrophils): 15%
- Bạch cầu ái toan (Eosinophils): 3%
- Lymphocyte: 70%
- Monocyte: 12%
Số lượng bạch cầu của bệnh nhân ở mức bình thường tại thời điểm xuất viện trước đó. Điều nào sau đây giải thích tốt nhất tình trạng giảm bạch cầu của bệnh nhân này?