Tình huống
Một bệnh nhân nam 65 tuổi được đưa vào bệnh viện vì khó thở khởi phát đột ngột. Bệnh nhân có tình trạng khó thở khi nằm. Không kèm theo đau ngực. Sáu tháng trước, bệnh nhân từng nhập viện vì các triệu chứng tương tự và đáp ứng tốt với thuốc lợi tiểu. Tiền sử bệnh lý ghi nhận: tăng huyết áp, bệnh mạch vành và các cơn thiếu máu não thoáng qua. Bệnh nhân đã can thiệp mạch vành qua da (PCI) nhiều lần do đau thắt ngực ổn định và phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh phải cách đây 2 năm. Bệnh nhân tuân thủ tốt điều trị nội khoa nhưng hút thuốc lá (1 bao/ngày). Huyết áp 210/100 mmHg, mạch 104 lần/phút, đều, nhịp thở 22 lần/phút. Độ bão hòa oxy (SpO2) là 86% khi thở khí phòng. Khám lâm sàng ghi nhận tĩnh mạch cổ nổi và ran ẩm hai phế trường. Bụng béo, mềm, không đau. Không phù chi. Kết quả xét nghiệm như sau:
- Công thức máu: Hemoglobin 13 g/dL, Tiểu cầu 240.000/mm³, Bạch cầu 8.200/mm³
- Sinh hóa máu: Kali 3,1 mmol/L, Bicarbonate 30 mmol/L, BUN 30 mg/dL (Ure 10,7 mmol/L), Creatinine 2,0 mg/dL (176,8 µmol/L), Canxi 8,4 mg/dL (2,1 mmol/L), Glucose 100 mg/dL (5,5 mmol/L)
- Chức năng gan: Protein toàn phần 6 g/dL, Albumin 4,3 g/dL, AST 12 U/L, ALT 24 U/L
- Tổng phân tích nước tiểu: Protein vết, Máu âm tính, Glucose âm tính, Bạch cầu 1-2/vi trường, Hồng cầu 1-2/vi trường, không có trụ niệu và tinh thể
Nồng độ Troponin I không tăng. ECG cho thấy nhịp xoang nhanh kèm phì đại thất trái. Siêu âm tim ghi nhận phì đại thất trái, phân suất tống máu thất trái (LVEF) bảo tồn và không có bất thường vận động vùng. Bệnh nhân cải thiện rõ rệt sau khi dùng lợi tiểu và thuốc hạ huyết áp. Bước xử trí tiếp theo tốt nhất là gì?