Một người đàn ông 68 tuổi có đặt ống dẫn lưu thận ra da hai bên được vợ đưa đến khoa cấp cứu vì thay đổi trạng thái tâm thần (S9976)

Tình huống

Một người đàn ông 68 tuổi có đặt ống dẫn lưu thận ra da hai bên được vợ đưa đến khoa cấp cứu vì thay đổi trạng thái tâm thần. Người vợ cho biết ông “không còn như bình thường” và trả lời bằng những cụm từ vô nghĩa khi bà đánh thức ông dậy ăn sáng. Bà nói thêm rằng, sau khi cả hai ống dẫn lưu thận được thay 4 ngày trước, lượng nước tiểu từ túi dẫn lưu thận bên phải tương đối thấp, và hôm qua ông có phàn nàn về đau vùng hông lưng bên phải. Bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt và được tiêm leuprolide mỗi 3 tháng. Bệnh nhân trông khó chịu và vã mồ hôi. Bệnh nhân tỉnh táo về bản thân nhưng không định hướng được thời gian và không gian. Nhiệt độ 36,8°C, mạch 124 lần/phút, nhịp thở 22 lần/phút, và huyết áp là 76/50 mm Hg khi nằm ngửa. Đo bão hòa oxy qua da với khí trời cho thấy SpO₂ là 96%. Túi dẫn lưu thận bên phải chứa một lượng nhỏ nước tiểu đục; túi dẫn lưu thận bên trái chứa nước tiểu trong. Nồng độ hemoglobin là 12 g/dL, số lượng bạch cầu là 22.000/mm³, số lượng tiểu cầu là 180.000/mm³, và nồng độ acid lactic trong huyết thanh là 4,2 mmol/L (N < 2). Tại khoa cấp cứu, một catheter tĩnh mạch trung tâm được đặt và theo dõi huyết động cho thấy:

  • Áp lực mao mạch phổi bít (PCWP): 4 mm Hg (N = 5-16)
  • Sức cản mạch máu hệ thống (SVR): 455 dynes·sec/cm⁵ (N = 900-1400)
  • Chỉ số tim (Cardiac index): 5,3 L/min/m² (N = 2,5-4,2)
  • Độ bão hòa oxy tĩnh mạch trộn (SvO₂): 81% (N = 65-70)

Kết quả cấy máu và cấy nước tiểu đang chờ. Bệnh nhân được bắt đầu hồi sức dịch và điều trị bằng kháng sinh phổ rộng. Sau khi truyền 2,5 L nước muối sinh lý 0,9%, huyết áp của bệnh nhân là 78/54 mm Hg. Bước tiếp theo nào sau đây là phù hợp nhất trong điều trị dược lý?