Tình huống
Một người đàn ông 72 tuổi đến khoa cấp cứu vì khó thở, đau đầu và mệt mỏi. Ông có tiền sử tăng huyết áp, sống một mình và không uống thuốc đều đặn. Bệnh nhân uống 1 hoặc 2 ly rượu vang mỗi ngày và không hút thuốc. Huyết áp đo được là 184/128 mmHg, mạch 96 lần/phút. Độ bão hòa oxy (SpO2) là 90% khi thở khí trời. Khám đáy mắt thấy phù gai thị giai đoạn sớm. Khám phổi thấy ran ẩm thô (coarse crackles) ở hai đáy phổi. Khám tim thấy tiếng thổi tâm thu tống máu độ 2/6 dọc theo bờ trái xương ức. Có phù nhẹ ở hai chân. X-quang ngực cho thấy hình ảnh phù phổi nhẹ. Điện tâm đồ (ECG) không thay đổi so với các lần trước. Các xét nghiệm cận lâm sàng bình thường, ngoại trừ creatinine huyết thanh là 2,0 mg/dL (177 μmol/L). Bệnh nhân được cho thở oxy, dùng furosemide và chỉ định truyền nitroprusside. Sau 36 giờ, huyết áp giảm còn 140/80 mmHg, mạch 98 lần/phút, và bệnh nhân không còn khó thở; tuy nhiên, ông xuất hiện tình trạng lú lẫn, mất định hướng và tăng phản xạ gân xương lan tỏa. Không ghi nhận các dấu hiệu thần kinh khu trú khác. Kết quả xét nghiệm lặp lại như sau: Natri 140 mEq/L, Kali 4,4 mEq/L, Clo 100 mEq/L, Bicarbonate 14 mEq/L, Creatinine 2,5 mg/dL (221 μmol/L).
Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra các triệu chứng hiện tại của bệnh nhân này?