Tình huống
Một phụ nữ 30 tuổi, mang thai lần 1, sinh lần 1, xuất hiện tình trạng yếu dần và vã mồ hôi 30 phút sau khi sinh một trẻ khỏe mạnh nặng 4250 g. Trẻ được sinh ngả âm đạo sau khi gây chuyển dạ ở tuần thứ 39 của thai kỳ, tiền sử thai kỳ bị biến chứng đái tháo đường thai kỳ. Nhau sổ ra sau 15 phút kể từ khi trẻ chào đời, nhau có kích thước bình thường, dây rốn bám trung tâm và màng ối đầy đủ. Lượng máu mất sau sinh ước tính là 1000 mL. Bệnh nhân trông nhợt nhạt và kiệt sức. Nhiệt độ 37,4°C, mạch 111 lần/phút và huyết áp 85/60 mm Hg. Khám bụng cho thấy tử cung co hồi tốt (chắc), ấn đau nhẹ với đáy tử cung sờ thấy ở mức rốn. Khám cơ quan sinh dục ngoài cho thấy âm hộ và tầng sinh môn nguyên vẹn. Tình trạng chảy máu âm đạo vẫn tiếp diễn. Kết quả tổng phân tích tế bào máu cho thấy nồng độ hemoglobin là 10 g/dL so với 11,5 g/dL lúc nhập viện; thời gian prothrombin là 15 giây và thời gian thromboplastin một phần là 36 giây. Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân này?