TÓM TẮT
Phong bế đám rối cánh tay – Đám rối cánh tay có thể được phong bế tại nhiều cấp độ khác nhau (hình 5):
- Phong bế kẽ cơ bậc thang (tại mức rễ thần kinh) được chỉ định cho phẫu thuật vùng vai và phần gần của chi trên (hình 6). (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế kẽ cơ bậc thang”.)
- Phong bế trên đòn (tại mức thân thần kinh) và phong bế dưới đòn (tại mức bó của đám rối cánh tay) được chỉ định cho phẫu thuật chi trên từ đoạn giữa xương cánh tay trở xuống (hình 7). (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”.)
- Phong bế vùng nách (tại mức các dây thần kinh riêng lẻ) được dùng cho phẫu thuật từ khuỷu tay trở xuống (hình 7). (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế vùng nách”.)
Các kỹ thuật phong bế khác
- Phong bế thần kinh liên sườn cánh tay có thể cần thiết để đảm bảo gây tê hoàn toàn vùng đặt ga-rô cánh tay sau khi thực hiện phong bế trên đòn, dưới đòn hoặc phong bế vùng nách (hình 10 và hình 8). (Xem mục ‘Phong bế thần kinh liên sườn cánh tay’ ở dưới.)
- Các dây thần kinh trụ, giữa hoặc quay có thể được phong bế tại vùng cẳng tay cho phẫu thuật bàn tay hoặc ngón tay (hình 11 và hình 12). (Xem mục ‘Phong bế cổ tay’ ở dưới.)
- Gây tê vùng tĩnh mạch (IVRA) là một phương pháp thay thế cho phong bế thần kinh ngoại vi đối với các thủ thuật ngắn (khoảng 30 đến 45 phút) ở bàn tay và cẳng tay (ví dụ: giải ép ống cổ tay, giải phóng co rút Dupuytren, nắn chỉnh gãy xương cổ tay). Kỹ thuật này bao gồm đặt catheter tĩnh mạch ở bàn tay, hút hết máu ở cánh tay bằng băng Esmarch, bơm phồng ga-rô, sau đó tiêm thuốc tê qua catheter tĩnh mạch. (Xem mục ‘Gây tê vùng tĩnh mạch (Bier block)’ ở dưới.)
Kỹ thuật hướng dẫn – Chúng tôi thực hiện phong bế đám rối cánh tay dưới hướng dẫn của siêu âm; khuyến cáo sử dụng siêu âm khi phong bế trên đòn để giảm thiểu nguy cơ chọc vào mạch máu và gây tràn khí màng phổi (Khuyến cáo 2C). Một số chuyên gia khác sử dụng kỹ thuật kích thích thần kinh cho phong bế kẽ cơ bậc thang, dưới đòn và vùng nách. Kỹ thuật xuyên động mạch có thể được áp dụng cho phong bế vùng nách. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế vùng nách”, “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế kẽ cơ bậc thang” và “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”.)
Phong bế liên tục – Catheter quanh dây thần kinh có thể được đặt để truyền thuốc tê (LA) liên tục nhằm kiểm soát đau sau mổ. Catheter dưới đòn được ưu tiên hơn catheter trên đòn khi phẫu thuật chi trên đoạn xa. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”, phần ‘Phong bế dưới đòn liên tục’.)
Biến chứng – Tràn khí màng phổi là một biến chứng có thể xảy ra khi phong bế trên đòn, và hiếm hơn là phong bế dưới đòn và kẽ cơ bậc thang. Các tác dụng phụ của ba kỹ thuật phong bế này bao gồm liệt thần kinh hoành, hội chứng Horner và khàn tiếng. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế kẽ cơ bậc thang”, phần ‘Biến chứng’ và “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”, phần ‘Tác dụng phụ và biến chứng’.)