Gây tê thân thần kinh chi trên: Các kỹ thuật

TÓM TẮT

Phong bế đám rối cánh tay – Đám rối cánh tay có thể được phong bế tại nhiều cấp độ khác nhau (hình 5):

Các kỹ thuật phong bế khác

  • Phong bế thần kinh liên sườn cánh tay có thể cần thiết để đảm bảo gây tê hoàn toàn vùng đặt ga-rô cánh tay sau khi thực hiện phong bế trên đòn, dưới đòn hoặc phong bế vùng nách (hình 10hình 8). (Xem mục ‘Phong bế thần kinh liên sườn cánh tay’ ở dưới.)
  • Các dây thần kinh trụ, giữa hoặc quay có thể được phong bế tại vùng cẳng tay cho phẫu thuật bàn tay hoặc ngón tay (hình 11hình 12). (Xem mục ‘Phong bế cổ tay’ ở dưới.)
  • Gây tê vùng tĩnh mạch (IVRA) là một phương pháp thay thế cho phong bế thần kinh ngoại vi đối với các thủ thuật ngắn (khoảng 30 đến 45 phút) ở bàn tay và cẳng tay (ví dụ: giải ép ống cổ tay, giải phóng co rút Dupuytren, nắn chỉnh gãy xương cổ tay). Kỹ thuật này bao gồm đặt catheter tĩnh mạch ở bàn tay, hút hết máu ở cánh tay bằng băng Esmarch, bơm phồng ga-rô, sau đó tiêm thuốc tê qua catheter tĩnh mạch. (Xem mục ‘Gây tê vùng tĩnh mạch (Bier block)’ ở dưới.)

Kỹ thuật hướng dẫn – Chúng tôi thực hiện phong bế đám rối cánh tay dưới hướng dẫn của siêu âm; khuyến cáo sử dụng siêu âm khi phong bế trên đòn để giảm thiểu nguy cơ chọc vào mạch máu và gây tràn khí màng phổi (Khuyến cáo 2C). Một số chuyên gia khác sử dụng kỹ thuật kích thích thần kinh cho phong bế kẽ cơ bậc thang, dưới đòn và vùng nách. Kỹ thuật xuyên động mạch có thể được áp dụng cho phong bế vùng nách. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế vùng nách”, “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế kẽ cơ bậc thang”“Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”.)

Phong bế liên tục – Catheter quanh dây thần kinh có thể được đặt để truyền thuốc tê (LA) liên tục nhằm kiểm soát đau sau mổ. Catheter dưới đòn được ưu tiên hơn catheter trên đòn khi phẫu thuật chi trên đoạn xa. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”, phần ‘Phong bế dưới đòn liên tục’.)

Biến chứng – Tràn khí màng phổi là một biến chứng có thể xảy ra khi phong bế trên đòn, và hiếm hơn là phong bế dưới đòn và kẽ cơ bậc thang. Các tác dụng phụ của ba kỹ thuật phong bế này bao gồm liệt thần kinh hoành, hội chứng Horner và khàn tiếng. (Xem “Hướng dẫn kỹ thuật phong bế kẽ cơ bậc thang”, phần ‘Biến chứng’“Hướng dẫn kỹ thuật phong bế đám rối cánh tay dưới đòn”, phần ‘Tác dụng phụ và biến chứng’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here