TÓM TẮT
Mô tả – Telomere là những cấu trúc chuyên biệt nằm ở đầu mút của các nhiễm sắc thể và ngắn dần sau mỗi lần phân chia tế bào. Trong các rối loạn sinh học telomere (TBDs), các đột biến ở những gen duy trì chiều dài telomere (bảng 1 và hình 1) dẫn đến tình trạng chết tế bào sớm, lão hóa tế bào, mất ổn định bộ gen và suy giảm chức năng cơ quan. (Xem phần ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, có thể ảnh hưởng đến tủy xương, hệ miễn dịch, da, phổi, gan và răng (bảng 2 và hình 1). Một số đặc điểm thường xuất hiện ở trẻ em, nhưng xơ phổi và xơ gan thường khởi phát ở người trưởng thành và có thể là dấu hiệu đầu tiên của TBDs (ngoại trừ bệnh loạn dưỡng dưỡng móng bẩm sinh – Dyskeratosis congenita (DC)). (Xem phần ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Cần cân nhắc chẩn đoán TBDs ở bệnh nhân ở mọi lứa tuổi khi có suy tủy xương (BMF) hoặc xơ phổi, có hoặc không kèm theo loạn dưỡng móng, sắc tố da bất thường, bạch sản niêm mạc miệng và/hoặc các biểu hiện thực thể khác.
Việc chẩn đoán cho bệnh nhân khởi phát thường dựa trên các dấu hiệu lâm sàng gợi ý TBDs, sau đó xác định biến thể gen gây bệnh thông qua phân tích chiều dài telomere, xét nghiệm di truyền và đánh giá tủy xương. (Xem phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm các nguyên nhân khác gây suy tủy xương (di truyền hoặc mắc phải), các bệnh ác tính huyết học, dị tật bẩm sinh hoặc bệnh phổi kẽ. (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Xử trí – Tất cả bệnh nhân TBDs cần được đánh giá toàn diện tại các trung tâm có chuyên môn về quản lý bệnh lý này.
Theo dõi – Bệnh nhân cần được theo dõi liên tục để phát hiện suy tủy xương (BMF), hội chứng loạn sản tủy/u tủy (MDS), một số khối u đặc, xơ phổi, bệnh gan, chức năng tuyến giáp, thiếu xương và các biểu hiện khác.
Nếu xác định được biến thể gây bệnh, anh chị em ruột và những thành viên gia đình trực hệ khác cần được xét nghiệm kịp thời để phát hiện bệnh ở giai đoạn tiềm tàng và đánh giá khả năng làm người hiến tặng trong ghép tế bào tạo máu (HCT). Xét nghiệm trước sinh cũng có thể được thực hiện nếu cần thiết. (Xem phần ‘Sàng lọc ban đầu và định kỳ’ và ‘Sàng lọc thành viên gia đình và họ hàng’ ở dưới.)
Suy tủy xương – Truyền máu có thể cần thiết trong trường hợp thiếu máu nặng hoặc giảm tiểu cầu nặng.
Chúng tôi chỉ định ghép tế bào tạo máu (HCT) cho tất cả bệnh nhân nhi mắc TBDs có đủ điều kiện y tế và có suy tủy mức độ trung bình đến nặng. Tuy nhiên, HCT đi kèm với nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, không điều trị được các biến chứng ngoài hệ tạo máu của TBDs và có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ác tính ngoài huyết học. (Xem phần ‘Điều trị suy tủy xương’ ở dưới.)
Danazol có thể hữu ích cho một số bệnh nhân không thể thực hiện HCT, nhưng không nên phối hợp androgens với các yếu tố kích thích tăng trưởng tạo máu do nguy cơ vỡ lách. (Xem phần ‘Các liệu pháp tăng cường chức năng telomere’ ở dưới.)
Các xử trí khác – Việc điều trị các bệnh ác tính huyết học, u đặc, các tổn thương da, móng và xơ phổi đã được thảo luận ở trên và trong các bài tổng quan chuyên đề riêng biệt. (Xem phần ‘AML hoặc MDS’, ‘U đặc’, ‘Điều trị các tổn thương da, móng và tóc không ác tính’ và ‘Điều trị xơ phổi’ ở dưới.)