TÓM TẮT
- Xử trí các triệu chứng tiền triệu – Đối với bệnh nhân ngất vận mạch (nguyên nhân gây ngất phổ biến nhất) có các triệu chứng tiền triệu, cần hướng dẫn bệnh nhân di chuyển an toàn đến tư thế ngồi hoặc nằm ngửa, đồng thời thực hiện các nghiệm pháp tạo áp lực đối kháng đẳng trường như bắt chéo chân và/hoặc gồng các cơ chi dưới ngay khi nhận ra các triệu chứng báo trước. (Xem thêm ‘Xử trí các triệu chứng tiền triệu’ ở dưới.)
- Xử trí tức thời sau ngất – Với các trường hợp ngất có người chứng kiến, xử trí tức thời cho bệnh nhân ngất hoặc tiền ngất bao gồm: hỗ trợ bệnh nhân nằm xuống đất hoặc một vị trí an toàn để tránh chấn thương, đặt bệnh nhân nằm ngửa và nâng cao chân (nếu có thể), đánh giá dấu hiệu sinh tồn và gọi trợ giúp. (Xem thêm ‘Xử trí tức thời (cấp cứu) cho bệnh nhân ngất’ ở dưới.)
- Dự phòng tái phát ngất – Việc lựa chọn phương pháp điều trị dự phòng tái phát ngất sẽ căn cứ vào nguyên nhân nghi ngờ gây ra tình trạng này. (Xem thêm ‘Các liệu pháp dự phòng tái phát ngất’ ở dưới.)
- Hạ huyết áp tư thế đứng – Tình trạng ngất tái phát do tác dụng phụ của một số loại thuốc thường có thể dự phòng được bằng cách ngưng thuốc gây bệnh, thay thế bằng thuốc khác, điều chỉnh liều lượng hoặc thay đổi thời điểm dùng thuốc. (Xem thêm ‘Hạ huyết áp tư thế đứng’ ở dưới.)
- Ngất vận mạch – Hiện chưa có liệu pháp nào được chứng minh là hiệu quả nhất quán trong việc điều trị tái phát ngất vận mạch. Tuy nhiên, cần trấn an bệnh nhân về tính chất thường là lành tính của ngất phản xạ (đồng thời lưu ý về nguy cơ chấn thương), giáo dục bệnh nhân tránh các yếu tố khởi phát, nhận biết các triệu chứng cảnh báo và hướng dẫn cách thực hiện các nghiệm pháp tạo áp lực đối kháng khi triệu chứng bắt đầu xuất hiện. (Xem thêm ‘Ngất phản xạ’ ở dưới và “Ngất phản xạ ở người lớn và trẻ vị thành niên: Điều trị”.)
- Loạn nhịp tim – Bệnh nhân ngất có bằng chứng loạn nhịp nhanh thất thường là đối tượng chỉ định điều trị bằng thuốc hoặc thiết bị nhằm ngăn ngừa đột tử do tim (SCD). Bệnh nhân ngất có block nhĩ thất (AV) độ cao (ví dụ: block nhĩ thất độ II type Mobitz II hoặc block nhĩ thất độ III [hoàn toàn]) hoặc có khoảng ngưng nhịp kéo dài sẽ được điều trị bằng cách đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn. (Xem thêm ‘Loạn nhịp tim’ ở dưới.)
- Hẹp van động mạch chủ nặng – Đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng không tìm thấy nguyên nhân gây ngất nào khác và nghi ngờ ngất là do hẹp van động mạch chủ nặng, chỉ định thay van động mạch chủ. Tương tự, ngất không rõ nguyên nhân (không liên quan đến các nguyên nhân do thần kinh tim/vận mạch) ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại được coi là dấu hiệu cảnh báo tăng nguy cơ đột tử. (Xem thêm ‘Tắc nghẽn đường thoát thất trái’ ở dưới, “Hẹp van động mạch chủ chênh áp cao ở người lớn: Chỉ định thay van” và “Bệnh cơ tim phì đại: Quản lý loạn nhịp thất và nguy cơ đột tử do tim”.)
- Hạn chế lái xe – Hạn chế lái xe được chỉ định cho một số bệnh nhân có nguy cơ tái phát ngất để đảm bảo an toàn cho chính họ và những người xung quanh. Nhìn chung, bệnh nhân ngất chưa được điều trị không nên lái xe cho đến khi các biện pháp điều trị dự phòng thích hợp được triển khai. Sau khi bắt đầu điều trị, thời gian bệnh nhân cần tránh lái xe sẽ thay đổi đáng kể tùy thuộc vào bệnh lý nền cũng như quy định pháp luật của địa phương, tiểu bang hoặc chính phủ quốc gia (bảng 4). (Xem thêm ‘Hạn chế lái xe’ ở dưới.)