Điều trị nhiễm thủy đậu (varicella)

TÓM TẮT

Bệnh nhân điều trị ngoại trú cần được hướng dẫn liên hệ với bác sĩ nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng của thủy đậu biến chứng (ví dụ: ho, đau đầu dữ dội, lú lẫn, buồn nôn và nôn) hoặc nhiễm khuẩn thứ phát (ví dụ: viêm mô tế bào).

Đối với những trường hợp cần dùng acyclovir đường tĩnh mạch, cần theo dõi nồng độ nitơ urê máu (BUN) và creatinine trong suốt quá trình điều trị. (Xem “Acyclovir: Tổng quan”, phần ‘Độc tính’.)

CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN

Bệnh nhân nhập viện vì thủy đậu nguyên phát cần được áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn, phòng ngừa tiếp xúc và phòng ngừa lây truyền qua đường hàng không để tránh lây nhiễm cho người khác. Nội dung chi tiết về các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cho bệnh nhân thủy đậu nguyên phát được thảo luận ở một phần khác. (Xem “Phòng ngừa và kiểm soát virus varicella-zoster trong cơ sở y tế”, phần ‘Phòng ngừa cách ly cho bệnh nhân thủy đậu’.)

TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ

Điều trị hỗ trợ – Bệnh nhân thủy đậu thường sốt và xuất hiện phát ban dạng mụn nước gây ngứa. Nhiều bệnh nhân cần điều trị hỗ trợ để kiểm soát các triệu chứng này. (Xem phần ‘Điều trị hỗ trợ’ ở dưới.)

Hướng tiếp cận điều trị kháng virus ở người không có biến chứng

  • Trẻ em và vị thành niên có miễn dịch bình thường – Đối với trẻ khỏe mạnh ≤12 tuổi, thủy đậu thường tự giới hạn và chúng tôi đề xuất không dùng liệu pháp kháng virus (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, chúng tôi đề xuất điều trị kháng virus cho trẻ em và vị thành niên có miễn dịch bình thường nhưng có nguy cơ cao gặp biến chứng (ví dụ: bệnh nhân ≥13 tuổi chưa tiêm phòng, người có bệnh lý mạn tính về da hoặc phổi, người đang dùng salicylate mạn tính hoặc corticosteroid hít) (Khuyến cáo 2B). (Xem phần ‘Trẻ em và vị thành niên có miễn dịch bình thường’ ở dưới.)
  • Người lớn có miễn dịch bình thường – Đối với người lớn có miễn dịch bình thường nhiễm thủy đậu không biến chứng, chúng tôi đề xuất dùng liệu pháp kháng virus đường uống kết hợp với điều trị hỗ trợ thay vì chỉ điều trị hỗ trợ đơn thuần (Khuyến cáo 2B). Liệu pháp kháng virus có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng và giảm nguy cơ biến chứng. Chúng tôi khởi đầu điều trị kháng virus bất kể tình trạng tiêm chủng của bệnh nhân. Thông thường, valacyclovir đường uống được ưu tiên sử dụng vì số liều dùng ít hơn so với acyclovir trong khi hiệu quả tương đương. (Xem phần ‘Người lớn có miễn dịch bình thường’ ở dưới.)
  • Người suy giảm miễn dịch – Đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch xuất hiện triệu chứng thủy đậu, chúng tôi khuyến cáo dùng điều trị kháng virus kết hợp với điều trị hỗ trợ thay vì chỉ điều trị hỗ trợ đơn thuần (Khuyến cáo 1B). Với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi đề xuất khởi đầu điều trị bằng acyclovir đường tĩnh mạch thay vì các thuốc đường uống (Khuyến cáo 2C). Thời gian điều trị nên kéo dài từ 7 đến 10 ngày. (Xem phần ‘Người suy giảm miễn dịch’ ở dưới.)
  • Phụ nữ mang thai – Đối với phụ nữ mang thai mắc thủy đậu không biến chứng, chúng tôi đề xuất liệu pháp kháng virus đường uống thay vì điều trị hỗ trợ (Khuyến cáo 2C). Việc quản lý phụ nữ mang thai mắc thủy đậu được thảo luận ở một phần khác. (Xem “Nhiễm virus varicella-zoster trong thai kỳ”, phần ‘Điều trị nhiễm thủy đậu’.)

Hướng tiếp cận điều trị kháng virus ở người có biến chứng – Đối với những bệnh nhân có biến chứng liên quan đến thủy đậu (ví dụ: viêm gan nặng, viêm phổi, viêm não), cần khởi đầu điều trị bằng acyclovir đường tĩnh mạch. Liệu pháp kháng virus nên được duy trì trong 7 đến 10 ngày. (Xem phần ‘Người có biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here