TÓM TẮT
Lựa chọn bệnh nhân – Đối với ung thư biểu mô tế bào vảy âm hộ, quyết định lựa chọn bệnh nhân điều trị bằng phẫu thuật kết hợp liệu pháp bổ trợ hay điều trị không phẫu thuật sẽ dựa trên cả giai đoạn bệnh (bảng 1) cũng như khả năng dung nạp điều trị của bệnh nhân. (Xem mục ‘Lựa chọn bệnh nhân’ ở dưới.)
Việc phân giai đoạn và điều trị phẫu thuật được thảo luận chi tiết ở phần khác. (Xem “Ung thư biểu mô tế bào vảy âm hộ: Phân giai đoạn và điều trị phẫu thuật”.)
Liệu pháp bổ trợ cho bệnh lý đã phẫu thuật cắt bỏ – Đối với những bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ khối u, liệu pháp bổ trợ có thể giúp giảm nguy cơ tái phát. Chúng tôi đưa ra quyết định điều trị bổ trợ dựa trên kết quả phân giai đoạn phẫu thuật.
- Với trường hợp hạch âm tính nhưng khối u có kích thước >4 cm hoặc có diện cắt dương tính hoặc sát (≤8 mm), chúng tôi đề xuất xạ trị bổ trợ vùng âm hộ (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Bệnh lý hạch âm tính’ ở dưới.)
- Đối với bệnh nhân có hạch dương tính, chúng tôi khuyến cáo xạ trị bổ trợ vùng bẹn và các vùng hạch (Khuyến cáo 1B). Một số chuyên gia cũng tiến hành xạ trị vùng âm hộ để giảm thiểu tái phát, trong khi những người khác thường không thực hiện nhằm giảm biến chứng. Cần thảo luận kỹ về lợi ích và nguy cơ với bệnh nhân. Đối với bệnh nhân có di căn đại thể hoặc di căn vi thể ở từ hai hạch trở lên, chúng tôi chỉ định kết hợp hóa trị (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Lợi ích của điều trị bổ trợ’ ở dưới.)
Bệnh lý không thể can thiệp phẫu thuật – Đối với bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật, chúng tôi đề xuất hóa xạ trị đồng thời cho vùng âm hộ, bẹn và hạch thay vì chỉ xạ trị đơn thuần (Khuyến cáo 2C). (Xem mục ‘Bệnh tiến triển tại chỗ không thể phẫu thuật’ ở dưới.)
Một số bệnh nhân được điều trị hóa xạ trị ban đầu cho bệnh lý tại vùng (được đánh giá là không thể phẫu thuật tại thời điểm khởi phát) có thể đáp ứng điều trị. Với những bệnh nhân này, chúng tôi tiến hành sinh thiết để đánh giá đáp ứng về mặt giải phẫu bệnh:
- Nếu kết quả sinh thiết xác nhận đáp ứng hoàn toàn: không cần phẫu thuật thêm và bắt đầu theo dõi sát.
- Nếu có bằng chứng đáp ứng một phần: chúng tôi đề xuất phẫu thuật cắt bỏ phần tổn thương còn lại, với điều kiện khối u hiện đã có thể phẫu thuật và bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật. Nếu bệnh nhân không thể phẫu thuật, chúng tôi lựa chọn theo dõi đơn thuần và dự phòng điều trị nội khoa nếu ghi nhận bệnh tiến triển.
Những bệnh nhân bệnh dai dẳng hoặc tiến triển dù đã điều trị được quản lý tương tự như bệnh nhân di căn xa. (Xem mục ‘Di căn xa’ ở dưới.)
Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu – Đối với những bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu (medically frail), các lựa chọn bao gồm xạ trị ban đầu hoặc chuyển sang chăm sóc giảm nhẹ. (Xem mục ‘Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe yếu’ ở dưới.)
Di căn xa – Đối với bệnh nhân di căn, chúng tôi chỉ định điều trị ban đầu bằng hóa trị. Phác đồ ưu tiên là carboplatin phối hợp paclitaxel. (Xem mục ‘Di căn xa’ ở dưới.)
Theo dõi sau điều trị – Bệnh nhân ung thư âm hộ cần được theo dõi dài hạn (xem mục ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới). Bệnh nhân nên thực hiện xét nghiệm tế bào học cổ tử cung (hoặc tế bào học âm đạo nếu đã cắt cổ tử cung) hàng năm. Ngoài ra:
- Với bệnh giai đoạn sớm (I và II): thực hiện đánh giá triệu chứng định kỳ và khám lâm sàng vùng âm hộ, cầu da và hạch bẹn mỗi 6 tháng trong 2 năm đầu, sau đó là hàng năm.
- Với bệnh giai đoạn tiến triển (III và IVA): việc thăm khám nên được thực hiện mỗi 3 tháng trong 2 năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng từ năm thứ 3 đến năm thứ 5, và sau đó là hàng năm.
Bệnh tái phát – Bệnh nhân tái phát tại chỗ khu trú nên được điều trị bằng các phương pháp tại chỗ như phẫu thuật hoặc xạ trị. Những trường hợp tái phát xa nên được quản lý tương tự như bệnh nhân di căn xa lúc khởi phát. (Xem mục ‘Tái phát xa’ ở dưới.)