Bệnh nhân ung thư: Đặc điểm lâm sàng, đánh giá và chẩn đoán các rối loạn trầm cảm đơn cực

TÓM TẮT

Tỷ lệ hiện mắc trầm cảm – Ở những bệnh nhân ung thư đang trong giai đoạn điều trị tích cực và không nằm trong chế độ chăm sóc giảm nhẹ, tỷ lệ hiện mắc trầm cảm chủ yếu đơn cực tại một thời điểm là khoảng 5% đến 20%. Nguy cơ mắc trầm cảm chủ yếu ở bệnh nhân ung thư cao gấp 2 đến 4 lần so với người không mắc ung thư. Ngoài ra, tỷ lệ trầm cảm tăng cao nhất ngay sau khi có chẩn đoán ung thư và giảm dần sau đó. Sau khi chẩn đoán ung thư, những người có tiền sử trầm cảm chủ yếu trước đó sẽ có nguy cơ phát triển trầm cảm chủ yếu đơn cực cao hơn. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Đặc điểm lâm sàng – Tâm trạng chán nản (dysphoria) là triệu chứng thường gặp trong ung thư học. Đây có thể là phản ứng tâm lý phù hợp trước chẩn đoán ung thư mới, khi tiên lượng xấu đi hoặc khi bệnh tái phát. Tuy nhiên, nếu tình trạng chán nản xuất hiện cùng với các dấu hiệu và triệu chứng cốt lõi khác của trầm cảm đơn cực, đó có thể là dấu hiệu khởi phát của hội chứng trầm cảm cần được điều trị. Các trạng thái trầm cảm bệnh lý tồn tại dưới dạng một phổ liên tục, từ các triệu chứng dưới ngưỡng hội chứng đến các hội chứng trầm cảm nhẹ và trầm cảm chủ yếu. Các giai đoạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư thường kéo dài ít nhất ba tháng. (Xem thêm mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Tầm soát – Các lâm sàng viên được khuyến khích tầm soát rối loạn trầm cảm ở tất cả bệnh nhân ung thư bằng Bộ câu hỏi sức khỏe bệnh nhân (Patient Health Questionnaire – PHQ) tự báo cáo gồm 2 câu (bảng 1); việc tầm soát nên được triển khai khi đã có sẵn các dịch vụ tâm thần học để đảm bảo theo dõi chẩn đoán và điều trị. Những bệnh nhân có kết quả tầm soát dương tính (chỉ cần một câu trả lời “có”) cần được phỏng vấn để chẩn đoán trầm cảm; quá trình phỏng vấn có thể được hỗ trợ bởi Bộ câu hỏi sức khỏe bệnh nhân PHQ-9 tự thực hiện (bảng 2). (Xem thêm mục ‘Tầm soát’ ở dưới.)

Đánh giá ban đầu

Quá trình đánh giá lâm sàng ban đầu đối với trầm cảm chủ yếu đơn cực bao gồm: khai thác tiền sử tâm thần, khám trạng thái tâm thần, tiền sử nội khoa tổng quát, khám thực thể và thực hiện một bộ xét nghiệm cận lâm sàng cơ bản.

Việc đánh giá cần chú trọng vào các triệu chứng khí sắc và nhận thức của trầm cảm chủ yếu (bảng 3), bao gồm: tâm trạng chán nản, mất khoái cảm, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi quá mức, tuyệt vọng, bất lực, suy giảm khả năng tập trung và ra quyết định, cùng các ý tưởng và hành vi tự sát.

Mặc dù trầm cảm chủ yếu cũng bao gồm các triệu chứng cơ thể (thần kinh thực vật) như suy nhược (anergia), chán ăn, rối loạn hoạt động tâm thần vận động và rối loạn giấc ngủ, nhưng các triệu chứng này ít được nhấn mạnh hơn vì chúng cũng có thể là hệ quả của bệnh ung thư và quá trình điều trị.

Những bệnh nhân có triệu chứng nặng (ví dụ: có ý tưởng tự sát kèm kế hoạch và ý định cụ thể, có hành vi tự sát hoặc các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng) cần được chuyển ngay lập tức đến khoa cấp cứu. (Xem thêm mục ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới.)

Chẩn đoán các hội chứng trầm cảm – Đối với bệnh nhân ung thư, các tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn trầm cảm đơn cực, bao gồm trầm cảm chủ yếu đơn cực (bảng 3) và trầm cảm nhẹ đơn cực (bảng 4), tương tự như các tiêu chuẩn được áp dụng cho quần thể chung. (Xem thêm mục ‘Tiêu chuẩn’ ở dưới.)

Tăng tỷ lệ tử vong – Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ung thư có bệnh đồng mắc là trầm cảm cao hơn so với những bệnh nhân ung thư không trầm cảm. (Xem thêm mục ‘Tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here