TÓM TẮT
Định nghĩa ‒ Mặc dù giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh được định nghĩa là số lượng tiểu cầu < 150.000/µL, nhưng trẻ sinh non và trẻ đủ tháng khỏe mạnh thường có số lượng tiểu cầu thấp hơn giá trị bình thường này. (Xem ‘Định nghĩa’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ ‒ Các yếu tố thuận lợi dẫn đến giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh bao gồm: sinh non, nhiễm trùng huyết, ngạt, chậm phát triển trong tử cung (trọng lượng lúc sinh [BW] < bách phân vị thứ 10 theo tuổi thai [GA]) và viêm ruột hoại tử. Nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của tình trạng giảm tiểu cầu tăng lên khi tuổi thai càng thấp và ở những trẻ nhập khoa hồi sức sơ sinh (NICU). (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Giảm tiểu cầu nặng ‒ Giảm tiểu cầu nặng ở trẻ sơ sinh (được định nghĩa là số lượng tiểu cầu < 50.000/µL) ít gặp ở quần thể trẻ sơ sinh khỏe mạnh nói chung. Tuy nhiên, nguy cơ này tăng cao ở những trẻ nhập khoa NICU, đặc biệt là trẻ sinh cực non (BW < 1000 g). (Xem ‘Định nghĩa’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Phân loại nguyên nhân ‒ Nguyên nhân gây giảm tiểu cầu có thể được phân loại theo cơ chế (do tăng phá hủy [bao gồm cô lập và tích tụ tiểu cầu] hoặc do giảm sản xuất) (bảng 1). Các hệ thống phân loại khác dựa trên kích thước tiểu cầu (lớn, bình thường và nhỏ), phương thức mắc (bẩm sinh hoặc mắc phải), thời điểm khởi phát sớm (< 72 giờ tuổi) hoặc muộn (≥ 72 giờ tuổi), và tuổi thai (sinh non so với đủ tháng). (Xem ‘Phân loại nguyên nhân’ ở dưới.)
Nguyên nhân
Các nguyên nhân gây tăng phá hủy tiểu cầu ở trẻ sơ sinh bao gồm:
- Giảm tiểu cầu do đồng miễn dịch ở trẻ sơ sinh (xem “Giảm tiểu cầu do trung gian miễn dịch ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Giảm tiểu cầu do đồng miễn dịch ở trẻ sơ sinh’)
- Giảm tiểu cầu do tự miễn ở trẻ sơ sinh (xem ‘Giảm tiểu cầu do tự miễn ở trẻ sơ sinh’ ở dưới và “Giảm tiểu cầu do trung gian miễn dịch ở trẻ sơ sinh”, phần ‘Giảm tiểu cầu do tự miễn ở trẻ sơ sinh’)
- Cô lập và bẫy tiểu cầu – Cường lách và hiện tượng Kasabach-Merritt (xem ‘Cô lập và bẫy tiểu cầu’ ở dưới)
- Hoạt hóa và tiêu thụ tiểu cầu – Đông máu rải rác trong lòng mạch và huyết khối (xem ‘Hoạt hóa và tiêu thụ tiểu cầu’ ở dưới và “Đông máu rải rác trong lòng mạch ở trẻ nhũ nhi và trẻ em”, phần ‘Các nguyên nhân khác ở trẻ sơ sinh’)
Các nguyên nhân gây giảm sản xuất tiểu cầu ở trẻ sơ sinh bao gồm:
- Tiền sản giật (xem ‘Tiền sản giật’ ở dưới)
- Các rối loạn di truyền gây khiếm khuyết trong quá trình phát triển và biệt hóa mẫu tiểu cầu (bảng 2) (xem ‘Rối loạn di truyền’ ở dưới)
- Các bệnh thâm nhiễm tủy xương – Bạch cầu cấp hoặc u nguyên bào thần kinh ở trẻ sơ sinh (xem ‘Rối loạn thâm nhiễm’ ở dưới)
Các nguyên nhân khác bao gồm cả hai cơ chế (tăng phá hủy và giảm sản xuất) hoặc không thể phân loại theo hai cơ chế này bao gồm:
- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn, virus hoặc nấm (xem ‘Nhiễm trùng’ ở dưới)
- Ngạt chu sinh (xem ‘Ngạt’ ở dưới)
- Giảm tiểu cầu do thuốc (xem ‘Giảm tiểu cầu do thuốc’ ở dưới)
- Pha loãng (xem ‘Pha loãng’ ở dưới)