Hội chứng tiêu khối u: Cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng, định nghĩa, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

TÓM TẮT

Mô tả – Hội chứng ly giải u là một tình trạng cấp cứu ung thư gây ra bởi sự ly giải ồ ạt tế bào u, giải phóng một lượng lớn kali, phosphate và acid uric vào hệ tuần hoàn. Việc lắng đọng các tinh thể acid uric và/hoặc calcium phosphate trong ống thận có thể dẫn đến tổn thương thận cấp. (Xem ‘Bệnh sinh’ ở dưới.)

Biểu hiện – Các dấu hiệu lâm sàng phản ánh những rối loạn chuyển hóa đi kèm (tăng kali máu, tăng phosphate máu và hạ calci máu), bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy, chán ăn, lờ đờ, tiểu máu, suy tim, loạn nhịp tim, co giật, chuột rút, co cứng cơ, ngất và có thể tử vong đột ngột. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Định nghĩa – Định nghĩa Cairo-Bishop thường được sử dụng cho hội chứng ly giải u (xem ‘Định nghĩa Cairo-Bishop’ ở dưới):

  • Hội chứng ly giải u trên xét nghiệm – Có ≥2 đặc điểm chuyển hóa chính (tăng acid uric máu, tăng kali máu, tăng phosphate máu, hạ calci máu (bảng 1)) xuất hiện trong vòng ba ngày trước hoặc bảy ngày sau khi bắt đầu hóa trị.
  • Hội chứng ly giải u trên lâm sàng – Thỏa mãn tiêu chuẩn hội chứng ly giải u trên xét nghiệm cộng với ≥1 trong các dấu hiệu sau mà không do tác nhân điều trị gây ra: creatinine huyết thanh tăng (≥1,5 lần giới hạn trên của mức bình thường), loạn nhịp tim/tử vong đột ngột, hoặc co giật.

Phân độ hội chứng ly giải u – Dựa trên mức độ nghiêm trọng của hội chứng ly giải u trên lâm sàng, như được mô tả trong bảng này (bảng 2). (Xem ‘Hệ thống phân độ’ ở dưới.)

Các yếu tố nguy cơ – Hội chứng ly giải u thường gặp nhất ở những bệnh nhân mắc các u lympho độ ác tính cao (ví dụ: u lympho Burkitt) và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho/u lympho lympho bào sau khi bắt đầu liệu pháp độc tế bào, mặc dù tình trạng này cũng có thể xảy ra tự phát và/hoặc ở các loại u khác có tốc độ tăng sinh nhanh, khối u lớn, hoặc độ nhạy cao với liệu pháp độc tế bào. (Xem ‘Các yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Sự phát triển của nhiều tác nhân nhắm trúng đích đã dẫn đến các trường hợp hội chứng ly giải u ở những bệnh ung thư trước đây vốn hiếm khi liên quan đến biến chứng này (ví dụ: ung thư đại tràng, bệnh bạch cầu mạn dòng lympho, bệnh bạch cầu dòng tủy mạn, các bệnh lý ác tính dòng lympho).

Phân tầng nguy cơ – Phân tầng nguy cơ dựa trên các yếu tố liên quan đến khối u và bệnh nhân có thể giúp đánh giá nguy cơ mắc hội chứng ly giải u, từ đó hỗ trợ chọn lựa phác đồ điều trị (bảng 4). Một cách tiếp cận thuật toán đơn giản để phân tầng nguy cơ cho hội chứng ly giải u được trình bày trong hình (thuật toán 1) 17. (Xem ‘Phân tầng nguy cơ’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here