TÓM TẮT
Phong bế thần kinh da đầu
Phong bế các dây thần kinh da đầu giúp giảm đau trong và sau phẫu thuật mở sọ cũng như các thủ thuật khác trên da đầu và xương sọ. Phương pháp này còn được ứng dụng trong điều trị các hội chứng đau mạn tính vùng đầu mặt cổ (hình 1). (Xem thêm mục ‘Ứng dụng của phong bế thần kinh da đầu’ ở dưới.)
Để thực hiện phong bế toàn bộ da đầu, cần phong bế tổng cộng 12 dây thần kinh (mỗi bên 6 dây) (hình 3). Phong bế toàn bộ da đầu bao gồm: thần kinh trên ổ mắt, thần kinh trên ròng rọc, thần kinh tai thái dương, thần kinh gò má thái dương, thần kinh chẩm lớn và thần kinh chẩm nhỏ. (Xem thêm mục ‘Kỹ thuật phong bế thần kinh da đầu’ ở dưới.)
Kỹ thuật phong bế da đầu được thực hiện theo mốc giải phẫu, tiêm từ 1 đến 5 mL thuốc tê tác dụng kéo dài (ví dụ: bupivacaine 0,25% hoặc 0,5%, hoặc ropivacaine 0,2% hoặc 0,5%) bằng kim 25G hoặc 27G, dài 1,5 inch (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Kỹ thuật phong bế thần kinh da đầu’ ở dưới.)
Phong bế thần kinh tai thái dương có thể gây liệt dây thần kinh mặt tạm thời; để hạn chế biến chứng này, cần giảm thiểu thể tích thuốc tê tiêm và tuân thủ đúng kỹ thuật mô tả. (Xem thêm mục ‘Biến chứng của phong bế thần kinh da đầu’ ở dưới.)
Phong bế đám rối cổ
Phong bế đám rối cổ nông và sâu giúp gây tê vùng cổ trước, cổ bên và da đầu (hình 6). Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích cho phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh khi bệnh nhân tỉnh, cho phép theo dõi thần kinh để phát hiện sớm các biến cố thuyên tắc hoặc thiếu máu não. Ngoài ra, phương pháp này còn được dùng để giảm đau sau phẫu thuật vùng cổ. (Xem thêm mục ‘Phong bế đám rối cổ’ ở dưới.)
Phong bế đám rối cổ nông hoặc trung gian thường được ưu tiên hơn phong bế sâu vì dễ thực hiện hơn, thường mang lại hiệu quả cao hơn và ít biến chứng hơn. (Xem thêm mục ‘Phong bế đám rối cổ’ ở dưới.)
Chúng tôi ưu tiên sử dụng hướng dẫn của siêu âm khi thực hiện phong bế đám rối cổ nông, mặc dù kỹ thuật mốc giải phẫu vẫn có thể được sử dụng thay thế. (Xem thêm mục ‘Kỹ thuật phong bế đám rối cổ nông’ ở dưới.)
Để giảm thiểu nguy cơ biến chứng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng hướng dẫn siêu âm thay vì kỹ thuật mốc giải phẫu khi thực hiện phong bế đám rối cổ sâu (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Kỹ thuật phong bế đám rối cổ sâu’ ở dưới.)
Phong bế đám rối cổ được thực hiện với thuốc tê nồng độ thấp, tác dụng kéo dài (ví dụ: ropivacaine 0,2% hoặc bupivacaine 0,25%) (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Lựa chọn thuốc tê’ ở dưới.)
Biến chứng của phong bế đám rối cổ hiếm gặp, bao gồm tiêm thuốc tê vào lòng mạch, liệt cơ hoành hoặc liệt dây thanh âm, và rất hiếm khi xảy ra tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện. (Xem thêm mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)