TÓM TẮT
Phòng ngừa – Các chương trình phòng ngừa được triển khai tại trường học có thể làm giảm ý tưởng tự sát và các nỗ lực tự sát ở học sinh; bên cạnh đó, các can thiệp dựa vào cộng đồng có thể làm giảm tạm thời tỉ lệ nỗ lực tự sát và tử vong ở thanh thiếu niên. (Xem thêm mục ‘Phòng ngừa tại trường học’ và ‘Phòng ngừa dựa vào cộng đồng’ ở dưới.)
Ổn định tình trạng y khoa – Ưu tiên hàng đầu đối với những bệnh nhân vừa có nỗ lực tự sát là ổn định tình trạng y khoa. (Xem thêm mục ‘Ổn định tình trạng y khoa’ ở dưới.)
Lựa chọn điều trị
Có ý tưởng tự sát nhưng chưa từng có nỗ lực tự sát trước đó – Đối với những bệnh nhân có ý tưởng tự sát và chưa từng cố gắng tự sát, chúng tôi đề xuất lập kế hoạch an toàn (hình 1) thay vì lập cam kết an toàn (Khuyến cáo 2C). Đồng thời, chúng tôi tập trung điều trị rối loạn tâm thần nền, từ đó giải quyết các ý tưởng tự sát (sơ đồ 1). (Xem thêm mục ‘Tiếp cận chung’ và ‘Có ý tưởng tự sát nhưng chưa từng có nỗ lực tự sát trước đó’ ở dưới.)
Đã từng có nỗ lực tự sát – Đối với những bệnh nhân đã thực hiện nỗ lực tự sát, chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp tâm lý chuyên biệt để ngăn ngừa các nỗ lực tự sát trong tương lai, thay vì các hình thức liệu pháp tâm lý khác (Khuyến cáo 1C). Mặc dù bằng chứng hỗ trợ cho phương pháp này còn hạn chế, nhưng những cá nhân từng tự sát có nguy cơ cao tái diễn và dẫn đến tử vong. Trong quá trình trị liệu tâm lý, chúng tôi hỗ trợ bệnh nhân xây dựng kế hoạch an toàn, đồng thời điều trị rối loạn tâm thần nền.
Các nguyên tắc chung khi điều trị tâm lý cho thanh thiếu niên có nguy cơ tự sát bao gồm:
- Tập trung rõ rệt vào việc đánh giá và quản lý nguy cơ tự sát.
- Đảm bảo bệnh nhân tiếp cận nhanh chóng với các dịch vụ lâm sàng và có đội ngũ hỗ trợ 24/24 giờ.
- Điều chỉnh cường độ điều trị phù hợp với nhu cầu lâm sàng và mức độ nguy cơ tự sát.
- Điều trị các rối loạn tâm thần nền (ví dụ: rối loạn trầm cảm và/hoặc rối loạn sử dụng chất).
- Triển khai các can thiệp chuyên biệt cho tự sát.
- Giải quyết các yếu tố bối cảnh (ví dụ: mâu thuẫn gia đình hoặc bị bạn bè bắt nạt).
- Phối hợp chăm sóc chặt chẽ khi thay đổi bác sĩ điều trị hoặc thay đổi cơ sở/cường độ chăm sóc.
Các lựa chọn liệu pháp tâm lý hiệu quả bao gồm: liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT), liệu pháp hành vi biện chứng (DBT), liệu pháp gia đình, liệu pháp tâm lý liên cá nhân và liệu pháp dựa trên tâm lý hóa (mentalization-based therapy). Mặc dù mỗi liệu pháp đều có thể áp dụng cho bất kỳ bệnh nhân nào từng nỗ lực tự sát, chúng tôi cố gắng lựa chọn liệu pháp chuyên biệt cho từng nhóm bệnh nhân cụ thể:
- Bệnh nhân có một lần nỗ lực tự sát trong bối cảnh mâu thuẫn gia đình gay gắt $ightarrow$ Liệu pháp gia đình.
- Bệnh nhân có một lần nỗ lực tự sát trong bối cảnh rối loạn nhân cách ranh giới (hoặc có các nét tính cách ranh giới), hoặc bệnh nhân đã nhiều lần nỗ lực tự sát $ightarrow$ Liệu pháp hành vi biện chứng hoặc liệu pháp dựa trên tâm lý hóa.
- Bệnh nhân có một lần nỗ lực tự sát $ightarrow$ Liệu pháp CBT hoặc liệu pháp tâm lý liên cá nhân.
(Xem thêm mục ‘Lựa chọn điều trị’ ở dưới.)
Thuốc chống trầm cảm – Việc chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm khẩn cấp không có vai trò trong quản lý cấp cứu trẻ em hoặc vị thành niên có ý định tự sát. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhi có ý tưởng hoặc hành vi tự sát vẫn được điều trị bằng thuốc cho các rối loạn tâm thần nền. (Xem thêm mục ‘Các phương pháp điều trị ít hoặc không có lợi ích’ ở dưới.)