TÓM TẮT
-
Cơ chế bệnh sinh – Áp xe não là một ổ tụ mủ khu trú trong nhu mô não, thường là biến chứng của nhiều loại nhiễm trùng, chấn thương hoặc phẫu thuật. Bệnh có thể xảy ra thông qua đường lan truyền trực tiếp hoặc đường máu.
- Lan truyền trực tiếp – Sự lan truyền trực tiếp các vi sinh vật từ một vị trí lân cận thường gây ra một ổ áp xe đơn độc. Các nhiễm trùng nguyên phát có khả năng lan truyền trực tiếp đến vỏ não bao gồm nhiễm trùng răng (thường lan đến thùy trán), viêm xoang trán hoặc xoang sàng (lan đến thùy trán), viêm tai giữa bán cấp hoặc mãn tính và viêm xương chũm (lan đến thùy thái dương dưới và tiểu não). (Xem ‘Lan truyền trực tiếp’ ở dưới.)
- Lan truyền đường máu – Áp xe não liên quan đến nhiễm khuẩn huyết thường biểu hiện dưới dạng đa ổ áp xe, phổ biến nhất là nằm trong vùng phân bố của động mạch não giữa. (Xem ‘Lan truyền đường máu’ ở dưới.)
-
Vi sinh vật học – Có nhiều loại vi sinh vật có thể gây áp xe não (bảng 1). Các tác nhân gây bệnh thay đổi tùy theo vị trí nhiễm trùng nguyên phát, đối tượng bệnh nhân (ví dụ: người có miễn dịch bình thường so với người suy giảm miễn dịch) và các yếu tố nguy cơ dịch tễ học. (Xem ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
-
Biểu hiện lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng của áp xe não điển hình bao gồm đau đầu, sốt và thiếu hụt thần kinh khu trú. Tuy nhiên, các dấu hiệu và triệu chứng có thể thay đổi, và trong giai đoạn sớm, các biểu hiện thường không đặc hiệu. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
-
Đánh giá và chẩn đoán
- Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh nhân nghi ngờ áp xe não cần được chụp chẩn đoán hình ảnh. Cộng hưởng từ (MRI) là lựa chọn ưu tiên vì có độ nhạy cao hơn chụp cắt lớp vi tính (CT). MRI khuếch tán (DWI) cũng có khả năng phân biệt tốt hơn giữa các tổn thương ngấm thuốc dạng viền do áp xe não với các tổn thương do khối u. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
- Xét nghiệm cận lâm sàng – Ở bệnh nhân nghi ngờ áp xe não, cần lấy hai bộ cấy máu trước khi khởi đầu điều trị kháng sinh. Những bệnh nhân có nguy cơ áp xe não do ký sinh trùng cũng cần làm xét nghiệm huyết thanh học (ví dụ: IgG kháng Toxoplasma trong huyết thanh cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch có nguy cơ nhiễm toxoplasmosis và kháng thể IgG kháng anticysticercal cho những người có yếu tố nguy cơ dịch tễ của ấu trùng sán lợn trong não). Việc chọc dò dịch não tủy (CSF) không làm tăng độ nhạy hay độ đặc hiệu trong chẩn đoán mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây thoát vị não. (Xem ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)
- Sinh thiết não – Ở hầu hết bệnh nhân, việc chọc hút tổn thương nên được thực hiện cho cả mục đích chẩn đoán và điều trị. Mẫu bệnh phẩm thu được từ chọc hút dưới hướng dẫn của CT định vị hoặc từ phẫu thuật cần được gửi đi nhuộm Gram; nuôi cấy vi khuẩn hiếu khí, kị khí, mycobacteria và nấm; nhuộm đặc biệt và làm giải phẫu bệnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sinh thiết có thể không khả thi (ví dụ: do vị trí tổn thương) hoặc đã có chẩn đoán xác định dựa trên lâm sàng, hình ảnh học và xét nghiệm (ví dụ: bệnh nhân đã biết có nhiễm khuẩn huyết, một số nhiễm ký sinh trùng nhất định). (Xem ‘Sinh thiết não’ ở dưới.)