Biểu hiện lâm sàng của nhiễm não mô cầu

TÓM TẮT

Neisseria meningitidis là nguyên nhân hàng đầu gây viêm màng não do vi khuẩn ở trẻ em và thanh niên tại Hoa Kỳ với tỷ lệ tử vong chung là 13%, đồng thời là nguyên nhân phổ biến thứ hai gây viêm màng não mủ do vi khuẩn mắc phải tại cộng đồng ở người trưởng thành. Biểu hiện lâm sàng của bệnh não mô cầu rất đa dạng, từ sốt thoáng qua và nhiễm khuẩn huyết cho đến thể fulminant dẫn đến tử vong chỉ trong vài giờ sau khi khởi phát triệu chứng. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Bệnh não mô cầu hệ thống cấp tính thường biểu hiện qua ba hội chứng chính:

  • Viêm màng não đơn thuần.
  • Viêm màng não kèm theo nhiễm não mô cầu huyết.
  • Nhiễm não mô cầu huyết không có biểu hiện lâm sàng của viêm màng não.
(Xem ‘Viêm màng não và nhiễm não mô cầu huyết cấp tính’ ở dưới.)

Triệu chứng khởi đầu điển hình của viêm màng não do N. meningitidis bao gồm khởi phát đột ngột các triệu chứng sốt, buồn nôn, nôn, đau đầu, giảm khả năng tập trung và đau cơ trên một bệnh nhân vốn khỏe mạnh. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Đau cơ có thể là một dấu hiệu phân biệt quan trọng và đôi khi cơn đau rất dữ dội, thường trầm trọng hơn so với đau cơ gặp trong cúm virus. Bệnh tiến triển thường rất nhanh, bệnh nhân có thể chuyển từ trạng thái khỏe mạnh sang bệnh nặng chỉ trong vòng vài giờ. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Các triệu chứng tiền triệu của viêm họng (dạng không mủ trong viêm màng não mô cầu) có thể dẫn đến chẩn đoán nhầm ban đầu là viêm họng do liên cầu khuẩn. Tuy nhiên, bệnh nhân viêm màng não mô cầu thường nhập viện với tình trạng bệnh hoặc nhanh chóng tiến triển nặng hơn nhiều so với chẩn đoán này. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng này rất đa dạng, do đó cần có chỉ số nghi ngờ cao và tìm kiếm kỹ lưỡng các manh mối bệnh lý để chẩn đoán, đặc biệt là khi không có dịch bệnh. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Mặc dù các đặc điểm lâm sàng ban đầu của bệnh não mô cầu tương tự như nhiều bệnh virus tự giới hạn thường gặp trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhưng các dấu hiệu nhiễm khuẩn huyết sớm sẽ giúp phân loại những bệnh nhân cần được theo dõi lâm sàng chặt chẽ. (Xem ‘Các dấu hiệu đáng báo động’ ở dưới.)

Dấu hiệu sinh tồn thường ghi nhận huyết áp thấp kèm nhịp tim nhanh. Cần thăm khám kỹ để tìm các nốt xuất huyết và mảng xuất huyết. Khám thực thể cũng cần bao gồm các nghiệm pháp kích thích tìm dấu hiệu kích thích màng não, chẳng hạn như dấu hiệu Kernig và Brudzinski. Tuy nhiên, việc thiếu các dấu hiệu viêm màng não không loại trừ chẩn đoán nhiễm não mô cầu hệ thống. (Xem ‘Khám thực thể’ ở dưới.)

Viêm màng não mô cầu và nhiễm não mô cầu huyết thường dẫn đến sốc, đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) và xuất huyết purpura fulminans. (Xem ‘Viêm màng não và nhiễm não mô cầu huyết cấp tính’ ở dưới.)

Nhiều biến chứng đã được ghi nhận ở bệnh nhân viêm màng não mô cầu, xuất hiện tại thời điểm khởi phát hoặc phổ biến hơn là trong giai đoạn hồi phục. Các biến chứng này bao gồm những tổn thương liên quan đến phức hợp miễn dịch như viêm khớp (không cấy ra vi khuẩn), viêm màng phổi, viêm mạch và viêm màng ngoài tim. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân viêm màng não mô cầu là khoảng 10% đến 15% mặc dù đã được điều trị bằng kháng sinh. (Xem ‘Tỷ lệ tử vong’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here