Song thai: Chăm sóc tiền sản thường quy

TÓM TẮT

Tăng cân và dinh dưỡng: Chúng tôi tuân thủ hướng dẫn của Học viện Y khoa Quốc gia (trước đây là Viện Y khoa) về tổng mức tăng cân theo tuổi thai đối với bệnh nhân mang thai đôi (xem ‘Tăng cân trong thai kỳ’ ở dưới):

  • BMI từ 18,5 đến 24,9 kg/m2 (cân nặng bình thường): Tăng cân từ 37 đến 54 lb (16,8 đến 24,5 kg).
  • BMI từ 25,0 đến 29,9 kg/m2 (thừa cân): Tăng cân từ 31 đến 50 lb (14,1 đến 22,7 kg).
  • BMI ≥ 30,0 kg/m2 (béo phì): Tăng cân từ 25 đến 42 lb (11,4 đến 19,1 kg).
Chúng tôi cũng áp dụng các khuyến nghị về nhu cầu calo và bổ sung dưỡng chất cho thai kỳ đôi của Hiệp hội Y học Sản Phụ khoa – Thai nhi (SMFM), như trình bày trong bảng (bảng 1). (Xem thêm ‘Dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung’ ở dưới.)

Dự phòng tiền sản giật: Chúng tôi đề xuất dự phòng bằng aspirin liều thấp để giảm nguy cơ tiền sản giật (Khuyến cáo 2B). Phụ nữ mang thai đôi là nhóm có nguy cơ cao phát triển tiền sản giật. (Xem “Tiền sản giật: Dự phòng”, phần ‘Aspirin liều thấp’.)

Hoạt động thể chất: Trong giai đoạn đầu thai kỳ, những bệnh nhân mang thai đôi không có biến chứng nhìn chung có thể áp dụng các khuyến cáo về tập luyện/hoạt động thể chất tương tự như thai đơn; tuy nhiên, lâm sàng cần đánh giá các yếu tố nguy cơ gây sinh non của từng cá nhân để tư vấn cho bệnh nhân một cách phù hợp. Khi thai kỳ tiến triển, những thay đổi về mặt thể chất thường sẽ hạn chế thời gian và loại hình tập luyện. (Xem ‘Hoạt động thể chất, tình dục và tập luyện’ ở dưới.)

Sàng lọc hội chứng Down: Đối với những phụ nữ lựa chọn sàng lọc hội chứng Down, chúng tôi đề xuất thực hiện xét nghiệm combined trong tam cá nguyệt thứ nhất hoặc sàng lọc không xâm lấn bằng DNA tự do trong máu mẹ (cfDNA). Trong khi xét nghiệm combined cung cấp đánh giá nguy cơ sớm và đặc hiệu cho từng thai nhi nhờ kết hợp đo độ mờ da gáy, thì cfDNA lại có tỷ lệ phát hiện cao hơn. Khi thực hiện lập nhiễm sắc thể đồ, cần thực hiện cho cả hai thai nhi vì ngay cả song thai cùng trứng cũng có thể có sự khác biệt. (Xem ‘Sàng lọc hội chứng Down (trisomy 21)’ ở dưới.)

Sàng lọc chiều dài cổ tử cung ngắn: Tại thời điểm siêu âm hình thái học từ tuần 18 đến 22 của thai kỳ, chúng tôi thường quy đánh giá chiều dài cổ tử cung bằng siêu âm đường bụng, sau đó thực hiện siêu âm đường âm đạo nếu hình ảnh cổ tử cung không rõ hoặc có dấu hiệu ngắn. Một số tác giả và biên tập viên khác thực hiện đo chiều dài cổ tử cung bằng siêu âm đường âm đạo 2 tuần một lần từ tuần 16 đến 24, tương tự như trong thai đơn có nguy cơ sinh non cao. Do thiếu bằng chứng chất lượng cao ưu thế cho một phương pháp cụ thể, thực hành lâm sàng về đo chiều dài cổ tử cung trong thai kỳ đôi có sự khác biệt giữa các bác sĩ (ngay cả những người làm việc trong cùng một cơ sở y tế). (Xem ‘Sàng lọc chiều dài cổ tử cung ngắn’ ở dưới.)

Sàng lọc dị tật bẩm sinh: Mỗi thai nhi trong cặp song thai khác trứng có tỷ lệ dị tật bẩm sinh tương đương với thai đơn và nếu có dị tật, tỷ lệ tương đồng giữa hai thai thường thấp. Tỷ lệ tương đồng về các dị tật bẩm sinh lớn ở song thai cùng trứng là khoảng 20%. Ngoài việc khảo sát hình thái học qua siêu âm, chúng tôi thực hiện siêu âm tim thai vào tuần 18 đến 20 đối với song thai một bánh nhau (không thực hiện với song thai hai bánh nhau), vì có khoảng 2 đến 10% song thai một bánh nhau được chỉ định siêu âm tim định kỳ phát hiện bệnh tim bẩm sinh ở ít nhất một thai; đồng thời siêu âm tim thai cũng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và quản lý hội chứng truyền máu song thai (TTTS). (Xem ‘Sàng lọc dị tật bẩm sinh’ ở dưới.)

Theo dõi tăng trưởng thai nhi: Hạn chế tăng trưởng thường gặp ở song thai nhiều hơn thai đơn và có thể biểu hiện theo ba cách (xem ‘Sàng lọc hạn chế tăng trưởng và sự không đồng nhất’ ở dưới):

  • Một thai nhỏ so với tuổi thai (gọi là hạn chế tăng trưởng thai nhi chọn lọc – sFGR).
  • Cả hai thai đều nhỏ so với tuổi thai.
  • Một thai nhỏ hơn đáng kể so với thai còn lại (tức là có sự không đồng nhất về tăng trưởng), mặc dù không thai nào nhỏ so với tuổi thai. Trong gần 2/3 các cặp song thai không đồng nhất, thai nhỏ hơn có cân nặng lúc sinh dưới bách phân vị thứ 10.
Đối với song thai hai bánh nhau mà cả hai thai đều phát triển phù hợp với tuổi thai, việc đánh giá tăng trưởng được thực hiện mỗi 4 đến 6 tuần sau tuần thứ 20 của thai kỳ. (Xem ‘Song thai hai bánh nhau’ ở dưới.) Việc siêu âm thường được thực hiện với tần suất dày hơn một lần mỗi tháng đối với song thai một bánh nhau, vì những trường hợp này cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện hội chứng truyền máu song thai (TTTS), trình tự thiếu máu-đa hồng cầu song thai (TAPS) và hạn chế tăng trưởng thai nhi chọn lọc (sFGR). (Xem ‘Song thai một bánh nhau/hai túi ối’ ở dưới.)

Xét nghiệm thai nhi trước sinh: Chúng tôi thực hiện xét nghiệm hàng tuần bao gồm nonstress test (NST) và đánh giá nước ối hoặc tính điểm chỉ số sinh học (BPP) bắt đầu từ tuần 32 cho hầu hết các trường hợp mang thai đôi (ngoại trừ song thai một bánh nhau một túi ối). Việc xét nghiệm sẽ được thực hiện sớm hơn và/hoặc thường xuyên hơn nếu xuất hiện các biến chứng, chẳng hạn như hạn chế tăng trưởng thai nhi. (Xem ‘Xét nghiệm thai nhi trước sinh’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here