TÓM TẮT
Định nghĩa – Chất ức chế là các kháng thể kháng lại các yếu tố đông máu được truyền vào, làm ức chế hoạt tính chức năng hoặc dược động học của chính yếu tố đó. (Xem thêm ‘Thuật ngữ và định nghĩa’ ở dưới.)
Yếu tố nguy cơ – Chất ức chế thường gặp nhất trong hemophilia nặng (yếu tố VIII hoặc IX < 1%). Tình trạng này phổ biến ở hemophilia A hơn hemophilia B và thường gặp hơn ở những người có nguồn gốc từ châu Phi hoặc các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha (tỷ lệ hiện mắc ở bệnh nhân hemophilia A nặng là 20-30% ở người da trắng và lên đến 50% ở người da đen; đối với hemophilia B nặng, tỷ lệ này là 1,5-3% ở người da trắng và lên đến 5-10% ở người da đen). Các yếu tố nguy cơ bao gồm: biến thể di truyền đặc hiệu, các “tín hiệu nguy hiểm” đối với hệ thống miễn dịch, các chất trung gian đáp ứng miễn dịch và chi tiết về liệu pháp dự phòng (loại chế phẩm, tuổi khi bắt đầu liều yếu tố đầu tiên, cường độ điều trị). (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ và ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Phát hiện – Chất ức chế có thể không biểu hiện lâm sàng hoặc được phát hiện khi việc truyền yếu tố không còn hiệu quả trong điều trị, dự phòng xuất huyết hoặc không làm tăng được nồng độ yếu tố đông máu. Có thể xảy ra các phản ứng truyền, đặc biệt chất ức chế yếu tố IX đã được ghi nhận là gây ra các phản ứng dị ứng với yếu tố IX truyền vào. Việc tầm soát định kỳ là cần thiết. (Xem thêm ‘Biểu hiện điển hình’ và ‘Tầm soát định kỳ và xét nghiệm trước phẫu thuật’ ở dưới.)
Hiệu giá – Chất ức chế được xét nghiệm bằng phương pháp Bethesda (có điều chỉnh Nijmegen). Phương pháp này giúp xác định chẩn đoán chất ức chế và định lượng hiệu giá. Hiệu giá ≥ 5 đơn vị Bethesda (BU) được coi là hiệu giá cao, và những trường hợp này được phân loại là đáp ứng cao (high-responding), ngay cả khi hiệu giá giảm xuống < 5 BU sau đó. Việc nắm bắt hiệu giá chất ức chế hiện tại là vô cùng quan trọng, vì đây là cơ sở để điều trị cấp cứu các đợt xuất huyết nặng hoặc đe dọa tính mạng. (Xem thêm ‘Chẩn đoán và đặc điểm chất ức chế (hiệu giá)’ ở dưới.)
Phòng ngừa – Các thực hành tốt nhất bao gồm phối hợp chặt chẽ với trung tâm điều trị hemophilia toàn diện (HTC) tại địa phương, thảo luận về các lựa chọn dự phòng không dùng yếu tố đông máu, và đảm bảo bệnh nhân hemophilia B được xác định chính xác biến đổi di truyền cũng như thực hiện 20 lần truyền yếu tố IX đầu tiên trong môi trường được theo dõi sát và có khả năng hồi sức cấp cứu. (Xem thêm ‘Tuân thủ các thực hành tốt nhất’ ở dưới và “Hemophilia A và B: Quản lý định kỳ bao gồm dự phòng”, phần ‘Emicizumab cho hemophilia A’.)
Loại bỏ – Nếu xuất hiện chất ức chế, liệu pháp kích thích dung nạp miễn dịch (ITI) được sử dụng để loại bỏ, thường gặp nhất trong thiếu hụt yếu tố VIII. Các chỉ định cho ITI đang thay đổi do sự ra đời của các chế phẩm dự phòng không dùng yếu tố trong hemophilia A. Sự hướng dẫn từ HTC địa phương hoặc chuyên gia ITI là thiết yếu. ITI có thể được thực hiện song song khi bệnh nhân đang dùng emicizumab; các dữ liệu về vấn đề này vẫn đang tiếp tục được cập nhật. (Xem thêm ‘Kích thích dung nạp miễn dịch’ ở dưới.)
Xuất huyết – Việc điều trị xuất huyết và phẫu thuật cho bệnh nhân có chất ức chế được thảo luận trong một phần riêng. (Xem thêm “Điều trị cấp cứu xuất huyết và phẫu thuật trong hemophilia A và B”, phần ‘Chất ức chế’.)
Biến chứng mạn tính – (Xem thêm “Biến chứng mạn tính và bệnh đồng mắc theo tuổi ở người bệnh hemophilia”.)