Chọc dò màng ngoài tim cấp cứu

TÓM TẮT

Sinh lý bệnh và chỉ định – Tràn dịch màng tim và chèn ép tim cấp là hai trạng thái trong cùng một phổ bệnh lý với biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Hệ quả đối với hệ tim mạch phụ thuộc vào lượng dịch, tốc độ tích tụ và khả năng dự trữ sinh lý của bệnh nhân. Dẫn lưu khẩn cấp được chỉ định cho những bệnh nhân có tình trạng suy giảm huyết động nghiêm trọng. Chèn ép tim cấp gây sụp đổ huyết động là chỉ định tuyệt đối để dẫn lưu màng tim ngay lập tức thông qua chọc hút dịch màng tim hoặc phẫu thuật mở màng tim. (Xem “Chèn ép tim cấp”‘Giải phẫu và sinh lý’ ở dưới cũng như ‘Chống chỉ định’ ở dưới.)

Theo dõi và chuẩn bị – Theo dõi được thực hiện bằng máy đo SpO2 và theo dõi tim tiêu chuẩn. Việc theo dõi điện tâm đồ (ECG) trong khi tiến kim chọc hút dịch màng tim có thể giúp ngăn ngừa tổn thương xuyên tim, tuy nhiên điều này không bắt buộc, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của siêu âm. Trước khi thực hiện thủ thuật, cần cung cấp hỗ trợ hô hấp và đường thở tùy theo chỉ định lâm sàng. Cần lưu ý rằng sự sụt giảm tiền tải đột ngột — thường xảy ra khi an thần, đặt nội khí quản và thông khí áp lực dương — có thể gây suy sụp cấp, bao gồm cả ngưng tim, ở những bệnh nhân chèn ép tim cấp. (Xem ‘Theo dõi và chuẩn bị’ ở dưới.)

Thiết bị – Các vật tư cần thiết để thực hiện chọc hút dịch màng tim khẩn cấp được mô tả trong văn bản và liệt kê tại (Bảng 1). Để đặt ống dẫn lưu màng tim qua da bằng kỹ thuật Seldinger, cần sử dụng kim chọc dẫn đường lòng lớn, thành mỏng để có thể luồn được dây dẫn (guidewire). (Xem ‘Vật liệu’ ở dưới.)

Tiếp cận và hướng dẫn siêu âm – Phương pháp tiếp cận tối ưu để dẫn lưu màng tim phụ thuộc vào thể trạng bệnh nhân, sự phân bố của dịch màng tim và sự sẵn có của máy siêu âm. Dịch màng tim không phải lúc nào cũng bao quanh toàn bộ hoặc phân bố đều trong khoang màng tim. Tình trạng vách hóa (loculation) xảy ra ở tối đa 1/3 các trường hợp tràn dịch không do chấn thương. Siêu âm là phương pháp phổ biến nhất để xác nhận tràn dịch màng tim, giúp việc dẫn lưu qua da diễn ra an toàn và chính xác hơn so với phương pháp chọc mù. Tuy nhiên, chọc hút màng tim mù có thể cần thiết cho những bệnh nhân nghi ngờ chuyển biến xấu do chèn ép tim cấp khi không có sẵn máy siêu âm. (Xem ‘Chuẩn bị chung’ ở dưới.)

Quy trình thực hiện chọc hút dịch màng tim khẩn cấp dưới hướng dẫn của siêu âm và chọc mù được mô tả chi tiết trong văn bản. (Xem ‘Kỹ thuật chọc dò màng tim dưới hướng dẫn của siêu âm’‘Kỹ thuật chọc dò màng tim không có hướng dẫn của siêu âm’ ở dưới.)

Vị trí chọc – Các nghiên cứu quan sát về sự phân bố dịch màng tim cho thấy một số vị trí tiếp cận ở ngực trước thường ưu việt hơn so với đường chọc dưới mũi kiếm truyền thống. Siêu âm thường cho thấy các vị trí cạnh ức và mỏm tim là những đường tiếp cận tối ưu. (Xem ‘Lựa chọn đường tiếp cận chọc hút màng ngoài tim’ ở dưới.)

Dẫn lưu – Việc đặt ống dẫn lưu màng tim được ưu tiên hơn so với chọc hút đơn thuần. Chọc hút bằng kim đơn thuần mang lại lợi ích huyết động tức thời, nhưng việc đặt ống dẫn lưu được khuyến cáo để đảm bảo duy trì đường tiếp cận liên tục. (Xem ‘Đặt ống dẫn lưu’ ở dưới.)

Đối với các trường hợp tràn dịch lượng nhiều, chỉ nên dẫn lưu tức thời dưới 500 mL để khôi phục huyết động nhằm tránh hội chứng giải áp màng tim. Tránh dẫn lưu liên tục do tỷ lệ tắc ống dẫn lưu cao; dẫn lưu ngắt quãng sẽ giúp tối ưu hóa sự thông thoáng của ống. Hãy bơm rửa ống dẫn lưu bằng 5 mL nước muối sinh lý vô trùng hoặc nước muối pha heparin giữa các lần hút, thực hiện mỗi 4 đến 6 giờ hoặc tùy theo chỉ định lâm sàng. (Xem ‘Dẫn lưu bằng catheter và chăm sóc’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here