Không có chấn thương hoặc không nghi ngờ bệnh lý thần kinh, nhiễm trùng hay bệnh lý hệ thống
Những bệnh nhân không có tiền sử chấn thương và không có dấu hiệu của bệnh lý thần kinh, nhiễm trùng hay bệnh lý hệ thống cần được chụp X-quang quy ước để đánh giá các bất thường về xương (ví dụ: gãy xương, trật khớp, u xương) (sơ đồ 1A).
Đối với trẻ dưới 5 tuổi có kết quả X-quang bình thường, nên thử thực hiện thủ thuật nắn chỉnh bán trật khớp chỏn quay (RHЅ). Nếu không cải thiện, chẩn đoán khả năng cao là tổn thương mô mềm hoặc bán trật khớp chỏn quay chưa được nắn chỉnh thành công. Những bệnh nhân này có thể được cố định bằng đai treo hoặc nẹp và cần được đánh giá lại sau 1 đến 2 ngày.
Ở trẻ lớn hơn, nếu X-quang bình thường, nguyên nhân có thể là tổn thương mô mềm, hội chứng đau vùng phức hợp hoặc rối loạn triệu chứng thần kinh chức năng.
Bất kể độ tuổi, một quá trình bệnh lý tiến triển âm thầm hoặc gãy xương kín đáo có thể hiện diện ở những bệnh nhân không rõ nguyên nhân. Xét nghiệm máu có thể được chỉ định nếu nghi ngờ có quá trình nhiễm trùng hoặc viêm tiềm ẩn. Đối với tất cả các trường hợp này, cần đảm bảo theo dõi sát sao và hướng dẫn chi tiết cho người chăm sóc về các dấu hiệu cần phải quay lại khoa cấp cứu.
TÓM TẮT
Chẩn đoán phân biệt – Một trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ không vận động chi do đau hoặc yếu cơ được coi là tình trạng “đi khập khiễng” của chi trên, với chẩn đoán phân biệt rất rộng. (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Độ tuổi của bệnh nhân giúp định hướng các nguyên nhân thường gặp (xem phần ‘Bệnh sử’ ở dưới):
- Trẻ sơ sinh – Gãy xương đòn hoặc tổn thương đám rối cánh tay. (Xem “Gãy xương đòn”, phần ‘Lưu ý ở trẻ em’ và “Liệt đám rối cánh tay sơ sinh”.)
- Nhũ nhi (<1 tuổi) – Bất thường hệ thần kinh trung ương, lạm dụng trẻ em, viêm xương tủy, viêm khớp nhiễm khuẩn hoặc liệt giả Parrot.
- Trẻ từ 1 đến 5 tuổi – Bán trật khớp chỏn quay (“khớp khuỷu bị kéo”) (hình 2) cho đến nay là nguyên nhân phổ biến nhất gây mất vận động cánh tay cấp tính ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi (xem “Bán trật khớp chỏn quay (khớp khuỷu bị kéo): Đánh giá và xử trí”). Tuy nhiên, trẻ mắc các bệnh lý nghiêm trọng hơn nhiều cũng có thể khởi phát với triệu chứng này (bảng 1).
- Trẻ trên 5 tuổi đến thanh thiếu niên – Gãy xương hoặc tổn thương mô mềm là thường gặp nhất, nhưng cần lưu ý đến nhiễm trùng cơ xương khớp, bệnh lý viêm và viêm cơ ở những bệnh nhân mất vận động cánh tay kèm theo sốt, tổn thương đa khớp, phát ban, sưng hạch, viêm khớp, tiểu máu hoặc phân máu. (Xem “Đánh giá trẻ bị đau và/hoặc sưng khớp”.)
Chấn thương là nguyên nhân thường gặp nhất gây mất vận động cánh tay cấp tính ở trẻ em; tuy nhiên, cần cân nhắc cả các nguyên nhân thần kinh hiếm gặp như migraine phức hợp, liệt Todd hoặc đột quỵ. Tình trạng không vận động cánh tay bán cấp thường điển hình hơn cho nhiễm trùng hoặc bệnh lý hệ thống như viêm khớp viêm, cơn khủng hoảng tắc mạch hoặc bệnh ác tính.
Đánh giá – Việc khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng cẩn thận, cùng với chụp X-quang (có hoặc không kèm xét nghiệm cận lâm sàng) ở một số bệnh nhân chọn lọc sẽ giúp thiết lập chẩn đoán. (Xem phần ‘Bệnh sử’, ‘Khám lâm sàng’ và ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)
Tiếp cận – Các sơ đồ cung cấp hướng tiếp cận để đánh giá trẻ mất vận động cánh tay tùy theo biểu hiện lâm sàng (sơ đồ 1A-C) (xem phần ‘Tiếp cận’ ở dưới).