TÓM TẮT
Dịch tễ học – Tắc tĩnh mạch võng mạc (RVO) là một nguyên nhân quan trọng gây mất thị lực trên toàn thế giới. Các yếu tố nguy cơ theo thứ tự giảm dần về khả năng bao gồm: tuổi cao, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, hút thuốc lá và tình trạng tăng đông máu. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Phân loại và sinh lý bệnh – Phân loại RVO dựa trên vị trí tổn thương của tĩnh mạch võng mạc:
- Tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc (CRVO): Xảy ra khi một tĩnh mạch võng mạc đoạn gần bị tắc do huyết khối, dẫn đến tổn thương toàn bộ võng mạc (hình 1). CRVO được phân loại thêm thành thể thiếu máu hoặc thể không thiếu máu (có tưới máu), tùy thuộc vào mức độ tắc nghẽn tĩnh mạch và tình trạng tưới máu của võng mạc.
- Tắc tĩnh mạch bán võng mạc (HRVO): Là thể ít gặp nhất, mô tả tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch dẫn lưu nửa trên hoặc nửa dưới võng mạc, gây ảnh hưởng đến một nửa võng mạc (hình 2). Cơ chế sinh lý bệnh tương tự như CRVO. (Xem ‘Phân loại và sinh lý bệnh’ ở dưới.)
- Tắc nhánh tĩnh mạch võng mạc (BRVO): Là thể thường gặp nhất, xảy ra khi một tĩnh mạch võng mạc đoạn xa bị tắc, gây xuất huyết dọc theo vùng phân bố của một mạch máu nhỏ ở võng mạc (hình 3). Cơ chế sinh lý bệnh được giả thuyết là do sự chèn ép tĩnh mạch võng mạc bởi các tiểu động mạch xơ vữa cứng nằm phía trên tại các điểm giao thoa động-tĩnh mạch. (Xem ‘Phân loại và sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Triệu chứng – Bệnh nhân RVO có thể không có triệu chứng hoặc khởi phát với tình trạng mất thị lực một bên không đau hoặc khiếm khuyết thị trường. Bệnh nhân CRVO thường ghi nhận giảm thị lực. Một số bệnh nhân BRVO có thể không triệu chứng, với các bất thường chỉ được phát hiện khi khám mắt định kỳ, trong khi những người khác có khiếm khuyết thị trường và giảm thị lực do phù hoàng điểm. Vì võng mạc không có phân bố thần kinh từ dây thần kinh sinh ba, bệnh nhân không cảm thấy đau nhãn cầu. (Xem ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
Kết quả khám mắt – Khám mắt cơ bản cho thấy thị lực bình thường hoặc giảm ở các mức độ khác nhau. Có thể xuất hiện khiếm khuyết thị trường. Vận nhãn và phản xạ đồng tử thường không bị ảnh hưởng. Khiếm khuyết phản xạ đồng tử hướng tâm (APD) có thể xuất hiện trong thể CRVO thiếu máu.
Hình ảnh soi đáy mắt bao gồm xuất huyết võng mạc, phù nề, giãn các tiểu tĩnh mạch võng mạc và các điểm bông xuất hiện khắp vùng phân bố của tĩnh mạch tổn thương (hình 5 và hình 1). (Xem ‘Khám và kết quả khám mắt’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán RVO có thể được thực hiện trên lâm sàng dựa trên bệnh sử đặc trưng và các phát hiện khi khám nhãn khoa. Các thành phần quan trọng của khám nhãn khoa bao gồm đo thị lực và soi đáy mắt giãn đồng tử để đánh giá tình trạng xuất huyết, phù nề và giãn tĩnh mạch võng mạc. Chụp mạch huỳnh quang được thực hiện để xác nhận chẩn đoán, tiên lượng và đánh giá nhu cầu điều trị. (Xem ‘Đánh giá và chẩn đoán’ và ‘Xét nghiệm nhãn khoa’ ở dưới.)
Xác định các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn – Chúng tôi tầm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch cho bệnh nhân bằng cách đo đường huyết lúc đói hoặc HbA1c và làm bộ mỡ máu lúc đói. Đối với những bệnh nhân nghi ngờ có tình trạng tăng đông máu tiềm ẩn, chúng tôi chuyển đến chuyên khoa huyết học để đánh giá và quản lý chuyên sâu hơn. (Xem ‘Xét nghiệm bệnh tim mạch và tăng đông máu tiềm ẩn’ ở dưới.)
Biến chứng – Diễn tiến tự nhiên của thị lực sau RVO thay đổi tùy theo kích thước và loại tắc nghẽn. Biến chứng của RVO có thể bao gồm phù hoàng điểm và tân mạch. Tân mạch mống mắt và góc tiền phòng có thể gây glocom tân mạch, trong khi tân mạch võng mạc có thể gây xuất huyết dịch kính. (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên và biến chứng’ ở dưới.)