TÓM TẮT
Định nghĩa – Ho ra máu là tình trạng khạc ra máu có nguồn gốc từ đường hô hấp dưới (tức là từ dưới dây thanh âm). Có nhiều vị trí gây chảy máu trong phổi và cây phế quản có thể dẫn đến ho ra máu (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Nguồn cấp máu – Hầu hết các đợt ho ra máu không đe dọa tính mạng thường bắt nguồn từ hệ tuần hoàn động mạch phổi. Mặc dù hệ tuần hoàn động mạch phế quản chỉ chiếm 2% tổng lượng cung cấp máu cho phổi, nhưng chảy máu từ động mạch phế quản lại là nguyên nhân gây ho ra máu đe dọa tính mạng trong 90% các trường hợp. (Xem thêm phần ‘Nguồn gốc động mạch phế quản so với động mạch phổi trong ho ra máu’ ở dưới.)
Các nguyên nhân không đe dọa tính mạng
- Tại các nước phát triển, những nguyên nhân phổ biến nhất gây ho ra máu không đe dọa tính mạng là viêm phế quản cấp, u phế quản và giãn phế quản; trong khi đó, nhiễm Mycobacterium tuberculosis (lao) và Paragonimus westermani (sán lá phổi) là những nguyên nhân thường gặp hơn tại các nước hạn chế về nguồn lực (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Các nguyên nhân gây ho ra máu không đe dọa tính mạng’ ở dưới.)
- Các nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm các bệnh lý đường thở khác (dị vật hít vào, rò động mạch – đường thở, tổn thương Dieulafoy), nhiễm trùng nhu mô phổi (ví dụ: áp xe phổi, u nấm Aspergillus) và các rối loạn miễn dịch (ví dụ: hội chứng Goodpasture, lupus ban đỏ hệ thống, bệnh hạt Caine với viêm đa mạch – granulomatosis with polyangiitis). (Xem thêm phần ‘Các căn nguyên phổ biến’ ở dưới.)
- Các căn nguyên hiếm gặp bao gồm rối loạn di truyền (ví dụ: hội chứng Ehlers-Danlos), lạc nội mạc tử cung, rối loạn mạch máu phổi (ví dụ: các tình trạng gây tăng áp lực tĩnh mạch phổi và động mạch phổi, dị dạng động tĩnh mạch phổi, phình mạch, thuyên tắc), chấn thương (bao gồm cả do thủ thuật y khoa), rối loạn đông máu (ví dụ: giảm tiểu cầu, bệnh lý đông máu) và một số loại thuốc hoặc độc chất (ví dụ: cocaine, thuốc lá điện tử hoặc vaping). (Xem thêm phần ‘Các nguyên nhân khác’ ở dưới.)
Các nguyên nhân đe dọa tính mạng – Thuật ngữ “ho ra máu đe dọa tính mạng” được sử dụng khi tình trạng ho ra máu dẫn đến các biến cố nguy hiểm, bao gồm tắc nghẽn đường thở nghiêm trọng, rối loạn trao đổi khí hoặc không ổn định về huyết động. Ho ra máu cũng được coi là đe dọa tính mạng khi lượng máu khạc ra khoảng 150 mL trong 24 giờ hoặc tốc độ chảy máu ≥ 100 mL/giờ. (Xem thêm phần ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Mặc dù bất kỳ căn nguyên nào gây ho ra máu không đe dọa tính mạng cũng có thể tiến triển thành mức độ nặng, nhưng các nguyên nhân phổ biến nhất gây ho ra máu đe dọa tính mạng bao gồm giãn phế quản, lao, ung thư phế quản và nhiễm nấm (đặc biệt là u nấm Aspergillus) (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Các nguyên nhân gây ho ra máu đe dọa tính mạng’ ở dưới.)
Ho ra máu không rõ nguyên nhân và giả ho ra máu – Ho ra máu không rõ nguyên nhân (hoặc vô căn) là thuật ngữ dùng cho các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân sau khi thăm dò, mặc dù việc đánh giá trong các đợt tái phát có thể phát hiện ra các tổn thương trước đó chưa được nhận diện (ví dụ: tổn thương Dieulafoy, ung thư giai đoạn sớm, tổn thương động mạch). Giả ho ra máu là tình trạng khạc ra máu nhưng có nguồn gốc từ đường hô hấp trên hoặc đường tiêu hóa trên. (Xem thêm phần ‘Ho ra máu không rõ nguyên nhân’ và ‘Giả ho ra máu’ ở dưới.)