TÓM TẮT
- Tỷ lệ mang thai ở người bị giam giữ – Tại Hoa Kỳ, khoảng 3% đến 4% phụ nữ trong các cơ sở giam giữ đang mang thai. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
- Xét nghiệm thai kỳ – Việc thực hiện xét nghiệm thai kỳ ngay khi nhập trại giúp tư vấn kịp thời về chăm sóc tiền sản, phân loại những người mang thai có các vấn đề về sản khoa hoặc nội khoa (ví dụ: xuất huyết âm đạo, nghi ngờ thai ngoài tử cung, hội chứng cai opioid) hoặc hướng dẫn đình chỉ thai nghén. (Xem ‘Xét nghiệm thai kỳ’ ở dưới.)
- Trao đổi thông tin giữa nhân viên tại chỗ và bên ngoài – Để đảm bảo bệnh nhân mang thai nhận được sự chăm sóc cần thiết, việc thiết lập kênh liên lạc hiệu quả về các vấn đề thai kỳ và lịch trình điều trị giữa nhân viên y tế tại cơ sở giam giữ, nhân viên y tế bên ngoài, lực lượng an ninh và bản thân bệnh nhân là điều thiết yếu. (Xem ‘Trao đổi thông tin giữa nhân viên tại chỗ và bên ngoài’ ở dưới.)
- Luật HIPAA – Theo Đạo luật về Trách nhiệm giải trình và Cung cấp Bảo hiểm Y tế (HIPAA), thông tin y tế của người bị giam giữ được coi là thông tin sức khỏe được bảo vệ (PHI). Bác sĩ lâm sàng bên ngoài có thể chia sẻ thông tin y tế với cơ sở giam giữ nếu thông tin PHI đó cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc để bảo vệ sức khỏe và an toàn của chính cá nhân đó hoặc những người bị giam giữ khác. Tuyệt đối không sử dụng quản giáo để truyền đạt thông tin giữa các nhà cung cấp dịch vụ y tế bên ngoài và tại chỗ, vì họ không phải là nhân viên y tế và không chịu ràng buộc bởi các tiêu chuẩn của HIPAA. (Xem ‘Tuân thủ HIPAA’ ở dưới.)
- Chăm sóc tiền sản – Các tiêu chuẩn sản khoa trong chăm sóc tiền sản, bao gồm tư vấn di truyền, sàng lọc di truyền, xét nghiệm chẩn đoán, sàng lọc sức khỏe tâm thần và siêu âm theo dõi, đối với bệnh nhân bị giam giữ cũng tương tự như đối với bệnh nhân trong cộng đồng. Những người bị giam giữ được đánh giá là nhóm có nguy cơ cao mắc nhiều bệnh truyền nhiễm, do đó khuyến cáo nên thực hiện xét nghiệm lại trong tam cá nguyệt thứ ba. (Xem ‘Cung cấp chăm sóc tiền sản thường quy’ ở dưới.)
- Vận chuyển đến và đi từ cơ sở giam giữ – Việc vận chuyển đến các cơ sở y tế lân cận thường là cần thiết cho một số giai đoạn của quá trình chăm sóc tiền sản; vì vậy, thời gian cần thiết cho toàn bộ quá trình vận chuyển phải được tính toán kỹ lưỡng trong kế hoạch quản lý. Một số người bị giam giữ có thể từ chối vận chuyển do những căng thẳng (stress) đi kèm. (Xem ‘Vận chuyển’ ở dưới.)
- Thai kỳ nguy cơ cao – Tình trạng thai kỳ nguy cơ cao rất phổ biến. Các yếu tố góp phần bao gồm: địa vị kinh tế xã hội thấp, không được chăm sóc tiền sản hoặc chăm sóc không đầy đủ, tiền sử sang chấn (thể chất, tình dục và tâm lý), lạm dụng ma túy bất hợp pháp và/hoặc rượu, rối loạn sức khỏe tâm thần, bệnh mạn tính, hoặc các bệnh truyền nhiễm cấp tính và mạn tính. Tương tự như bất kỳ thai kỳ nào khác, mỗi bệnh nhân cần được đánh giá các yếu tố nguy cơ gây biến chứng để theo dõi và điều trị phù hợp với tình trạng lâm sàng. (Xem ‘Thai kỳ nguy cơ cao’ ở dưới.)
- Chuyển dạ và sinh con – Mặc dù nhiều cơ quan pháp luật và y tế khuyến cáo rằng các biện pháp kiềm chế (như xiềng xích) chỉ nên được sử dụng đối với người mang thai bị giam giữ trong những trường hợp cực kỳ đặc biệt và tuyệt đối không được sử dụng trong quá trình chuyển dạ và sinh con, nhưng thực tế trải nghiệm của những cá nhân này có thể khác. Ngoài ra, các luật chống xiềng xích hiện hành thường vẫn còn những vùng xám liên quan đến việc sử dụng biện pháp kiềm chế đối với người mang thai bị giam giữ khi đang vận chuyển hoặc khi ở cơ sở bên ngoài (bao gồm nhập viện, thăm khám tại phòng khám ngoài hoặc ra tòa) trong giai đoạn trước và sau sinh. (Xem ‘Kiềm chế trong khi sinh (xiềng xích)’ ở dưới.)
- Hậu sản – Việc giáo dục về các vấn đề hậu sản, bao gồm sắp xếp nơi nuôi dưỡng trẻ sơ sinh, nuôi con bằng sữa mẹ và biện pháp tránh thai, cần được bắt đầu ngay trong quá trình chăm sóc tiền sản. Hầu hết trẻ sơ sinh sẽ bị tách khỏi mẹ sau khi xuất viện và việc duy trì nuôi con bằng sữa mẹ thông qua hút và bảo quản sữa hiếm khi khả thi. Việc sàng lọc trầm cảm sau sinh cần được thực hiện tương tự như đối với tất cả các bệnh nhân hậu sản khác. (Xem ‘Các vấn đề hậu sản’ và ‘Sức khỏe tâm thần’ ở dưới.)
- Theo dõi người mang thai được trả tự do trước khi sinh – Đa số những người mang thai bị giam giữ sẽ được trả tự do trước khi sinh. Khi rời khỏi cơ sở giam giữ, những rào cản đối với việc chăm sóc liên tục bao gồm thiếu nơi ở ổn định và khó khăn về tài chính. Các bước giúp đảm bảo tính liên tục trong chăm sóc sau khi được thả bao gồm: tái thiết lập bảo hiểm y tế, hẹn lịch tái khám, chuyển hồ sơ sức khỏe cho các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài và cung cấp thuốc chuyển tiếp hoặc đơn thuốc để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân cho đến lần hẹn tiếp theo. Đối với những cá nhân đang điều trị rối loạn sử dụng opioid bằng methadone hoặc buprenorphine trong thai kỳ, việc đảm bảo tính liên tục trong chăm sóc bao gồm việc kết nối họ với một phòng khám điều trị hoặc nhà cung cấp được cấp phép trước khi họ rời khỏi cơ sở giam giữ. (Xem ‘Chăm sóc theo dõi sau khi được trả tự do’ ở dưới.)