Tiếp cận những người sống sót sau ung thư biểu mô buồng trứng, ống dẫn trứng hoặc phúc mạc

TÓM TẮT

Ý nghĩa lâm sàng – Ung thư buồng trứng là loại ung thư phụ khoa phổ biến thứ hai và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư phụ khoa tại Hoa Kỳ. Ung thư biểu mô buồng trứng (EOC) có liên quan chặt chẽ với ung thư vòi trứng và ung thư phúc mạc. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với EOC giai đoạn III hoặc IV lần lượt là khoảng 40% và 20% (bảng 1); tuy nhiên, tính đến năm 2022, có gần 247.000 người sống sót sau EOC tại Hoa Kỳ. (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Tổng quan về điều trị – Ung thư buồng trứng, vòi trứng và phúc mạc được phân giai đoạn bằng phẫu thuật, bao gồm cắt tử cung toàn phần cùng với cắt hai phần phụ (vòi trứng và buồng trứng), nạo hạch chậu và hạch cạnh động mạch chủ bụng, và cắt mạc nối (bảng 2). Hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III hoặc IV và sẽ được phân giai đoạn phẫu thuật, sau đó là hóa trị phối hợp giữa một muối bạch kim (carboplatin hoặc cisplatin) và một taxane (paclitaxel hoặc docetaxel). Các liệu pháp duy trì mới hiện đang được nghiên cứu và có thể làm gia tăng độc tính ngắn hạn cũng như dài hạn. (Xem phần ‘Tổng quan về điều trị’ ở dưới.)

Theo dõi sau điều trị – Các lần tái khám tại phòng khám (bao gồm hỏi bệnh, khám thể chất tổng quát và khám vùng chậu) nên được thực hiện mỗi 2 đến 4 tháng trong 2 năm đầu, sau đó mỗi 3 đến 6 tháng trong 3 năm tiếp theo, và tái khám hàng năm sau 5 năm. Vai trò của kháng nguyên ung thư (CA) 125 (hoặc các dấu ấn ung thư khác) trong theo dõi vẫn còn gây tranh cãi; trong thực hành lâm sàng, chúng tôi kiểm tra nồng độ CA 125 ở mỗi lần khám nếu các dấu ấn này tăng cao ở thời điểm chẩn đoán ban đầu. Các xét nghiệm khác (ví dụ: sinh hóa máu, tổng phân tích tế bào máu hoặc chẩn đoán hình ảnh) chỉ nên được thực hiện khi có chỉ định lâm sàng (ví dụ: khi CA 125 tăng hoặc xuất hiện triệu chứng mới hoặc trầm trọng hơn). (Xem phần ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)

Tác động dài hạn

  • Bệnh lý thần kinh – Độc tính thần kinh kéo dài là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (QOL) của những người sống sót dài hạn, thường gặp nhất là do tác dụng không mong muốn của hóa trị 18,19. Cách tiếp cận điều trị độc tính thần kinh do hóa trị được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Phòng ngừa và điều trị bệnh lý thần kinh ngoại biên do hóa trị”, phần ‘Điều trị’.)
  • Mệt mỏi – Mệt mỏi là rào cản đối với các hoạt động hàng ngày và góp phần làm giảm chất lượng cuộc sống. Ở bệnh nhân EOC, tình trạng mệt mỏi có thể kéo dài sau khi hoàn tất hóa trị, gây khó chịu ở mức độ vừa phải và khó kiểm soát. (Xem phần ‘Mệt mỏi’ ở dưới.)
  • Triệu chứng tiêu hóa – Những người sống sót sau ung thư buồng trứng thường gặp các rối loạn chức năng ruột đáng kể, bao gồm táo bón và tiêu chảy, cả trong và sau liệu pháp điều trị ban đầu. Các triệu chứng tiêu hóa tỷ lệ nghịch với chất lượng cuộc sống của người bệnh EOC. Những bệnh nhân EOC xuất hiện các triệu chứng tiêu hóa mới cần được đánh giá để tầm soát tái phát bệnh thông qua hỏi bệnh, khám lâm sàng và các chẩn đoán hình ảnh (ví dụ: chụp cắt lớp vi tính [CT] bụng/chậu, chụp cộng hưởng từ [MRI], chụp cắt lớp phát xạ positron [PET]/CT hoặc PET). (Xem phần ‘Độc tính tiêu hóa’ ở dưới.)
  • Rối loạn chức năng tình dục – Các vấn đề về chức năng tình dục thường gặp ở những người sống sót sau EOC. Rối loạn tình dục có thể là hệ quả của phẫu thuật, hóa trị, mãn kinh, hoặc do vấn đề tình dục từ phía bạn đời hoặc các trục trặc trong mối quan hệ. Bệnh nhân có thể than phiền về tình trạng đau khi giao hợp, giảm ham muốn hoặc các rối loạn chức năng tình dục khác. (Xem phần ‘Rối loạn chức năng tình dục’ ở dưới.)
  • Triệu chứng mãn kinh – Đối với những bệnh nhân EOC có các triệu chứng mãn kinh gây khó chịu, chúng tôi ưu tiên các lựa chọn không dùng hormone làm biện pháp điều trị bước một. Tuy nhiên, đối với những người không đáp ứng hoặc từ chối điều trị không dùng hormone, chúng tôi đề xuất liệu pháp hormone thay vì không điều trị hoặc sử dụng các liệu pháp không hormone khác (Khuyến cáo 2C). Nhìn chung, mặc dù các nghiên cứu thường tập trung vào những bệnh nhân trong vòng 10 năm kể từ khi mãn kinh hoặc dưới 60 tuổi, chúng tôi vẫn áp dụng phương pháp này cho những người sống sót sau ung thư buồng trứng trên 60 tuổi, dù ghi nhận những hạn chế về dữ liệu hiện có. (Xem phần ‘Triệu chứng hoặc tác động mãn kinh hệ thống’ ở dưới.)
  • Các vấn đề tâm lý xã hội – Hầu hết bệnh nhân EOC đều trải qua một mức độ khủng hoảng tâm lý kéo dài. Những thách thức về cảm xúc này có thể tồn tại trong nhiều năm sau khi chẩn đoán. Trầm cảm và lo âu là những tình trạng phổ biến ở những người sống sót sau ung thư buồng trứng. (Xem phần ‘Các vấn đề tâm thần và tâm lý xã hội’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here