TÓM TẮT
Phản vệ sau tiêm chủng hiếm gặp – Phản ứng phản vệ đối với vaccine hiếm gặp, tuy nhiên có thể đe dọa tính mạng. Các phản ứng qua trung gian immunoglobulin E (IgE) này thường do các thành phần trong vaccine gây ra hơn là các thành phần vi sinh vật. Triệu chứng của phản ứng phản vệ sau tiêm chủng tương tự như phản vệ do các nguyên nhân khác (bảng 2). Phản ứng thường khởi phát trong vòng 30 phút, nhưng trong một số ít trường hợp có thể khởi phát muộn sau vài giờ. Nhân viên y tế cần chuẩn bị sẵn sàng để xử trí các phản ứng dị ứng hiếm gặp có thể xảy ra sau bất kỳ loại vaccine nào. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Các loại vaccine liên quan – Đã có báo cáo về các phản ứng dị ứng hệ thống với hầu hết mọi loại vaccine, mặc dù một số loại vaccine thường gặp hơn, bao gồm vaccine sốt vàng da; sởi, quai bị và rubella (MMR); và uốn ván. (Xem mục ‘Phản ứng qua trung gian IgE với các vaccine cụ thể’ ở dưới.)
Các tình trạng giả dị ứng – Có những phản ứng không do dị ứng sau tiêm chủng phổ biến hơn nhiều so với phản ứng dị ứng thực sự và có triệu chứng tương tự, chẳng hạn như phản ứng vận mạch (vasovagal) và các triệu chứng liên quan đến lo âu, được gọi là đáp ứng liên quan đến stress khi tiêm chủng (ISRRs). Thuật ngữ ISRR xuất hiện trong đại dịch COVID-19, khi các phản ứng này với vaccine SARS-CoV-2 xảy ra phổ biến đến mức cần triển khai các nỗ lực giáo dục để nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế. Bảng sau tóm tắt các đặc điểm của phản ứng không do dị ứng có thể nhầm lẫn với phản vệ (bảng 4). (Xem mục ‘Các tình trạng giả phản vệ’ và ‘Phản ứng với vaccine COVID-19’ ở dưới.)
Đánh giá và xử trí – Có hai kịch bản lâm sàng thường gặp là: cần tiêm chủng lần đầu cho bệnh nhân có tiền sử dị ứng hoặc nghi ngờ dị ứng với một thành phần của vaccine và cần tiêm lại cho người từng phản ứng với vaccine trước đó. Mỗi kịch bản sẽ có hướng tiếp cận khác nhau. (Xem mục ‘Tiếp cận bệnh nhân nghi ngờ dị ứng vaccine’ ở dưới.)
Bệnh nhân dị ứng hoặc nghi ngờ dị ứng với thành phần vaccine – Đối với những bệnh nhân chưa tiêm vaccine vì thành phần trong vaccine có chất họ dị ứng hoặc nghi ngờ dị ứng, hướng tiếp cận tùy thuộc vào thành phần cụ thể (sơ đồ 1):
- Gelatin – Gelatin liên quan đến phản ứng dị ứng ở một số loại vaccine (bảng 5). Hầu hết các loại vaccine đều có chế phẩm không chứa gelatin. Nếu không có phiên bản không chứa gelatin, bệnh nhân cần được chuyển đến chuyên gia dị ứng để xác nhận tình trạng dị ứng gelatin và đánh giá thêm. (Xem mục ‘Gelatin’ ở dưới.)
- Trứng – Protein từ trứng gà có mặt trong một số loại vaccine (bảng 6). Tuy nhiên, dị ứng trứng (kể cả mức độ nặng) không phải là chống chỉ định tiêm vaccine sốt vàng da hay bất kỳ loại vaccine nào khác, bao gồm cúm, MMR và dại. Không nhất thiết phải khai thác tiền sử dị ứng trứng trước khi tiêm, và tất cả các vaccine chứa trứng đều có thể được tiêm bình thường. (Xem mục ‘Trứng gà’ ở dưới.)
- Các thành phần khác – Hầu hết các dị nguyên khác (ví dụ: sữa bò, latex) và chất bảo quản (ví dụ: thimerosal, polysorbates và các chất khác) hoặc là chưa được chứng minh chắc chắn gây ra phản ứng dị ứng vaccine, hoặc chỉ liên quan đến các phản ứng muộn thường không tái hiện được. Do đó, không cần các biện pháp phòng ngừa đặc biệt khi tiêm các vaccine chứa các thành phần này. (Xem mục ‘Phản ứng với các thành phần của vaccine’ ở dưới.)
Bệnh nhân từng phản vệ với vaccine – Đối với bệnh nhân từng có biểu hiện phản vệ sau khi tiêm một loại vaccine và cần tiêm lại loại đó trong tương lai, chúng tôi thực hiện test lẩy da với vaccine nghi ngờ (sơ đồ 2). Việc thực hiện và đọc kết quả test lẩy da vaccine phải do chuyên gia dị ứng đảm nhiệm. (Xem mục ‘Test lẩy da với vaccine và thành phần vaccine’ ở dưới.)
- Nếu kết quả test lẩy da âm tính, vaccine có thể được tiêm một liều đơn và theo dõi trong 30 phút. (Xem mục ‘Kết quả test lẩy da âm tính’ ở dưới.)
- Nếu kết quả test lẩy da dương tính, vaccine có thể được tiêm theo phương pháp tăng dần liều sau khi đánh giá kỹ lưỡng về tương quan giữa nguy cơ và lợi ích khi tiếp tục tiêm (sơ đồ 2). (Xem mục ‘Kết quả test lẩy da dương tính’ ở dưới.)