Viêm tĩnh mạch huyết khối vùng chậu nhiễm khuẩn

TÓM TẮT

  • Sinh bệnh học – Viêm tĩnh mạch huyết khối chậu nhiễm khuẩn (SPT) là một bệnh lý hiếm gặp, xảy ra khi có tổn thương nội mạc tĩnh mạch chậu, ứ trệ tĩnh mạch và tình trạng tăng đông (thường gặp sau sinh hoặc sau phẫu thuật vùng chậu). (Xem thêm ‘Dịch tễ học’‘Sinh bệnh học’ ở dưới.)
  • Vi sinh vật học – Tác nhân gây bệnh chưa được xác định rõ ràng nhưng nhìn chung phản ánh phổ đa khuẩn của các tình trạng nhiễm trùng vùng chậu khác, bao gồm liên cầu khuẩn (streptococci), họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) và vi khuẩn kỵ khí. (Xem thêm ‘Vi sinh vật học’ ở dưới.)
  • Đặc điểm lâm sàng – Bệnh nhân SPT có thể biểu hiện qua hai hội chứng đặc trưng:
    • Bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch buồng trứng thường bệnh cấp tính, sốt và đau bụng trong vòng một tuần sau sinh hoặc sau phẫu thuật; hình ảnh học đôi khi có thể ghi nhận tình trạng huyết khối tĩnh mạch buồng trứng (thường ở bên phải).
    • Bệnh nhân SPT sâu có biểu hiện kín đáo hơn với sốt đơn độc trong giai đoạn sớm sau sinh hoặc sau phẫu thuật; đáng chú ý là không có hiện tượng đau khi thăm khám vùng bụng hoặc vùng chậu, và chẩn đoán hình ảnh thường không phát hiện huyết khối ở một tĩnh mạch cụ thể.
    Cấy máu hiếm khi cho kết quả dương tính. Thuyên tắc phổi là biến chứng ít gặp, chỉ xảy ra trong khoảng 2% trường hợp. (Xem thêm ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
  • Đánh giá – Cần nghi ngờ SPT ở những bệnh nhân sốt kéo dài dù đã điều trị kháng sinh (thường là điều trị theo hướng viêm nội mạc tử cung hoặc nhiễm trùng vùng chậu khác) trong vài tuần sau sinh thường, sinh mổ hoặc phẫu thuật vùng chậu. Nếu tiền sử và thăm khám lâm sàng ban đầu không tìm thấy nguyên nhân gây sốt rõ ràng, chúng tôi sẽ chỉ định chẩn đoán hình ảnh bụng chậu để đánh giá SPT và/hoặc các bệnh lý tiềm ẩn khác. Một số chuyên gia thường sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT); chụp cộng hưởng từ (MRI) là một lựa chọn thay thế hợp lý. Các phương pháp này hữu ích nhất trong việc xác định huyết khối tĩnh mạch buồng trứng và các nguyên nhân gây sốt khác, tuy nhiên, kết quả hình ảnh học âm tính không loại trừ hoàn toàn SPT. (Xem thêm ‘Đánh giá ban đầu’‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
  • Chẩn đoán – Đối với bệnh nhân sốt và đau bụng sớm sau sinh hoặc sau phẫu thuật, việc chẩn đoán SPT tương đối dễ dàng nếu thăm khám phát hiện khối dạng dây có thể sờ thấy (hiện tượng ít gặp) và/hoặc hình ảnh học ghi nhận huyết khối tĩnh mạch buồng trứng (hoặc tĩnh mạch chậu sâu khác). Trong các trường hợp khác, chúng tôi điều trị theo kinh nghiệm cho các ca nghi ngờ SPT ngay cả khi không tìm thấy huyết khối trên hình ảnh học; chẩn đoán SPT được xác lập nếu bệnh nhân hết sốt trong vòng 48 giờ sau khi dùng thuốc chống đông toàn thân. (Xem thêm ‘Thiết lập chẩn đoán’ ở dưới.)
  • Điều trị kháng sinh – Chúng tôi đề nghị điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch có phổ tác dụng đối với liên cầu khuẩn, họ vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn kỵ khí (Khuyến cáo 2C). Nhiều bệnh nhân có thể đã được dùng kháng sinh để điều trị viêm nội mạc tử cung hoặc các nhiễm trùng vùng chậu nghi ngờ khác. Chúng tôi ngừng kháng sinh sau 48 giờ kể từ khi lâm sàng cải thiện (ví dụ: hết sốt và bạch cầu trở về bình thường). Việc kéo dài thời gian điều trị kháng sinh là phù hợp cho những bệnh nhân có biến chứng như thuyên tắc nhiễm khuẩn hoặc cấy máu dương tính. (Xem thêm ‘Kháng sinh’ ở dưới.)
  • Thuốc chống đông – Chúng tôi đề nghị sử dụng thuốc chống đông toàn thân cho bệnh nhân nghi ngờ, phỏng đoán hoặc đã xác định mắc SPT (Khuyến cáo 2C). Thời gian dùng thuốc chống đông tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng:
    • Đối với bệnh nhân không ghi nhận huyết khối hoặc không có tình trạng tăng đông cơ địa: ngừng thuốc chống đông sau 48 giờ kể từ khi hết sốt.
    • Đối với bệnh nhân có bằng chứng hình ảnh học về huyết khối tĩnh mạch nhánh vùng chậu: tiếp tục dùng thuốc chống đông trong ít nhất 2 tuần.
    • Đối với bệnh nhân có bằng chứng hình ảnh học về huyết khối vùng chậu lan tỏa (ví dụ: huyết khối liên quan đến tĩnh mạch buồng trứng, tĩnh mạch chậu hoặc tĩnh mạch chủ) hoặc thuyên tắc nhiễm khuẩn: tiếp tục dùng thuốc chống đông trong ít nhất 6 tuần.
    Thời gian 6 tuần thường là đủ cho huyết khối tĩnh mạch chậu liên quan đến thai kỳ hoặc các quá trình thoáng qua khác. Thời gian dùng thuốc chống đông dài hơn có thể phù hợp với những bệnh nhân có bệnh lý thuyên tắc ngoài vùng chậu hoặc có các yếu tố nguy cơ tăng đông mạn tính. (Xem thêm ‘Thuốc chống đông’ ở dưới và “Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch: Liệu pháp chống đông sau xử trí ban đầu”.)
  • Tiên lượng – Tỷ lệ biến chứng và tử vong liên quan đến SPT là thấp. Không có bằng chứng về nguy cơ tái phát SPT trong các lần mang thai tiếp theo. (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here