TÓM TẮT
Chỉ định – Chỉ định chọc hoặc đặt catheter động mạch ở trẻ em bao gồm (xem ‘Chỉ định, chống chỉ định và thận trọng’ ở dưới):
- Chọc động mạch – Đánh giá trạng thái thăng bằng kiềm-toan và oxy hóa máu, đối chiếu giá trị máu động mạch với các phương pháp đo ít xâm lấn hơn (ví dụ: khí máu tĩnh mạch hoặc đo bão hòa oxy qua da), hoặc lấy mẫu máu khi chọc tĩnh mạch không thành công.
- Đặt catheter động mạch – Theo dõi khí máu động mạch nhiều lần hoặc theo dõi huyết áp động mạch liên tục ở trẻ bệnh nặng hoặc trẻ đang phẫu thuật lớn.
Chống chỉ định và thận trọng – Nhiễm trùng da tại vị trí thực hiện thủ thuật là chống chỉ định chính đối với chọc hoặc đặt catheter động mạch (Xem ‘Chỉ định, chống chỉ định và thận trọng’ ở dưới).
Chọc động mạch – Động mạch quay đoạn xa là vị trí thông thường để chọc động mạch (hình 1). Các vị trí thay thế bao gồm động mạch trụ, động mạch chày sau (hình 2), động mạch mu chân (hình 3), động mạch đùi (hình 4) hoặc động mạch cánh tay. Lựa chọn kích cỡ kim chọc phù hợp dựa trên cân nặng của trẻ (bảng 1). Nếu sử dụng kim cánh bướm, cần heparin hóa dây dẫn và bơm tiêm (Xem ‘Lựa chọn vị trí và dụng cụ’ ở dưới).
Kiểm soát đau bao gồm sử dụng thuốc tê tại chỗ (ví dụ: lidocaine liposomal hoặc lidocaine-prilocaine) nếu thời gian cho phép, hoặc gây tê thấm dưới da; ngoài ra, sử dụng kim có kích cỡ nhỏ nhất phù hợp với cân nặng của trẻ hoặc hệ thống đưa thuốc không dùng kim (Xem ‘Kiểm soát đau’ ở dưới).
Kỹ thuật chọc động mạch chi tiết từng bước đã được mô tả ở trên (Xem ‘Kỹ thuật’ và ‘Biến chứng’ ở dưới).
Đặt catheter động mạch – Động mạch quay đoạn xa cũng là vị trí thông thường để đặt catheter động mạch (hình 1). Các vị trí thay thế bao gồm động mạch trụ, động mạch đùi, động mạch chày sau và động mạch mu chân. Chúng tôi tránh sử dụng động mạch cánh tay, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi. Lựa chọn kích cỡ catheter phù hợp dựa trên cân nặng của trẻ (bảng 1) (Xem ‘Lựa chọn vị trí’ ở dưới).
Đối với trẻ tỉnh, ngoài việc gây tê tại chỗ, việc an thần để kiểm soát đau và hạn chế cử động sẽ giúp thực hiện thủ thuật an toàn hơn, đặc biệt là khi đặt đường truyền động mạch đùi (Xem ‘Kiểm soát đau’ ở dưới).
Khi đặt catheter động mạch ở trẻ em, chúng tôi đề nghị hướng dẫn bằng siêu âm (US) bất cứ khi nào có sẵn thiết bị và chuyên gia (Khuyến cáo 2B). Việc sử dụng siêu âm giúp giảm số lần chọc và tăng tỷ lệ thành công của thủ thuật, đồng thời giảm nguy cơ biến chứng (Xem ‘Hướng dẫn bằng siêu âm’ ở dưới).
Người thực hiện có thể sử dụng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp xuyên (transfixion). Phương pháp xuyên yêu cầu sử dụng dây dẫn (guidewire) (hình 8); phương pháp trực tiếp có thể thực hiện có hoặc không có dây dẫn (Xem ‘Phương pháp xuyên (transfixion) có dây dẫn’ ở dưới).
Phòng ngừa biến chứng – Các biến chứng nghiêm trọng trong và sau khi đặt catheter động mạch bao gồm nhiễm trùng và huyết khối động mạch gây thuyên tắc:
Nguy cơ nhiễm trùng được giảm thiểu bằng cách (xem ‘Nhiễm trùng’ ở dưới):
- Sử dụng vị trí động mạch quay
- Tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật vô khuẩn trong khi đặt và thao tác với catheter sau đó
- Hạn chế thời gian lưu catheter động mạch trong khả năng có thể
Nguy cơ huyết khối động mạch gây thuyên tắc được giảm thiểu bằng cách (xem ‘Huyết khối động mạch và thuyên tắc’ ở dưới):
- Sử dụng vị trí động mạch quay sau khi đảm bảo lưu thông máu bàng hệ
- Đặt catheter có kích cỡ phù hợp với cân nặng của trẻ
- Thực hiện thủ thuật dưới hướng dẫn của siêu âm để đảm bảo tỷ lệ thành công cao ngay lần chọc đầu tiên, tránh gây sang chấn quá mức trong khi đặt catheter
- Duy trì bơm rửa catheter liên tục sau khi đặt bằng nước muối sinh lý có pha heparin (ví dụ: 2 đơn vị heparin/mL)