TÓM TẮT
Cơ chế bệnh sinh – Hạ kali máu là một vấn đề lâm sàng thường gặp, có thể do giảm cung cấp, tăng chuyển dịch kali vào trong tế bào, hoặc phổ biến nhất là tăng mất kali qua đường tiêu hóa hoặc nước tiểu (bảng 1). (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Lượng kali nạp vào cơ thể bình thường từ 40 đến 120 mEq mỗi ngày. Vì thận có khả năng giảm bài tiết kali xuống còn 5 đến 25 mEq mỗi ngày khi cơ thể thiếu hụt kali, nên việc giảm cung cấp đơn thuần hiếm khi gây ra tình trạng hạ kali máu. (Xem phần ‘Giảm cung cấp kali’ ở dưới.)
Các nguyên nhân chính gây hạ kali máu
- Chuyển dịch vào trong tế bào – Kali trong cơ thể phân bố chủ yếu ở nội bào, sự phân bố này được duy trì chính bởi bơm Na-K-ATPase. Sự gia tăng hoạt động của bơm Na-K-ATPase và/hoặc những thay đổi trong các con đường vận chuyển kali khác có thể dẫn đến hạ kali máu do tăng đưa kali vào tế bào. Các ví dụ điển hình của hiện tượng này bao gồm (xem phần ‘Tăng chuyển dịch vào tế bào’ ở dưới):
- Tăng tác dụng của insulin (xem ‘Tăng nồng độ insulin’ ở dưới)
- Tăng hoạt tính beta-adrenergic (xem ‘Tăng hoạt tính beta-adrenergic’ ở dưới)
- Tăng pH ngoại bào (xem ‘Tăng pH ngoại bào’ ở dưới)
- Mất qua đường tiêu hóa – Mất dịch vị hoặc dịch ruột do bất kỳ nguyên nhân nào (nôn, tiêu chảy, dùng thuốc nhuận tràng hoặc dẫn lưu qua ống) đều liên quan đến việc mất kali và có thể dẫn đến hạ kali máu:
- Mất qua đường tiêu hóa trên (ví dụ: nôn) dẫn đến hạ kali máu thông qua việc tăng thải kali qua nước tiểu. Điều này xảy ra do tình trạng kiềm chuyển hóa (hệ quả của việc mất acid dạ dày) làm tăng tải lượng bicarbonate lọc vượt quá ngưỡng tái hấp thu. Kết quả là, nhiều natri bicarbonate và nước được đưa đến vị trí bài tiết kali ở ống thận xa. (Xem phần ‘Mất qua đường tiêu hóa trên’ ở dưới.)
- Ngược lại với dịch vị, nồng độ kali trong dịch mất qua đường tiêu hóa dưới tương đối cao. Hạ kali máu do mất qua đường tiêu hóa dưới (thường do tiêu chảy) điển hình đi kèm với mất bicarbonate và toan chuyển hóa, thay vì kiềm chuyển hóa như trong mất qua đường tiêu hóa trên. Hạ kali máu do mất qua đường tiêu hóa dưới thường gặp nhất khi tình trạng mất dịch kéo dài. (Xem phần ‘Mất qua đường tiêu hóa dưới’ ở dưới.)
- Mất qua thận – Hạ kali máu do tăng thải kali qua nước tiểu thường đòi hỏi phải có tình trạng dư thừa mineralocorticoid (thường do tăng aldosterone) và/hoặc tăng dòng chảy đến ống thận xa. (Xem phần ‘Tăng mất kali qua nước tiểu’ ở dưới.)
Các nguyên nhân chính gây tăng thải kali qua nước tiểu bao gồm:
- Thuốc lợi tiểu – Bất kỳ loại thuốc lợi tiểu nào tác động ở vùng trước vị trí bài tiết kali sẽ vừa làm tăng lượng dịch đến ống thận xa, vừa kích hoạt hệ renin-angiotensin-aldosterone thông qua việc gây giảm thể tích tuần hoàn. (Xem phần ‘Thuốc lợi tiểu’ ở dưới.)
- Tăng hoạt tính mineralocorticoid – Tăng thải kali qua nước tiểu là đặc điểm của bất kỳ tình trạng nào liên quan đến tăng tiết mineralocorticoid nguyên phát, ví dụ như u tuyến thượng thận tiết aldosterone. (Xem phần ‘Tăng hoạt tính mineralocorticoid’ ở dưới.)
- Bài tiết các anion không tái hấp thu – Khi natri được đưa đến ống thận xa cùng với một lượng lớn các anion không tái hấp thu (như bicarbonate hoặc beta-hydroxybutyrate), nhiều natri sẽ được tái hấp thu hơn thông qua cơ chế trao đổi với kali, dẫn đến tăng bài tiết kali rõ rệt. (Xem phần ‘Các anion không tái hấp thu’ ở dưới.)
- Các nguyên nhân khác – Hạ kali máu có thể xảy ra ở bệnh nhân vã mồ hôi quá mức, bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo hoặc thay huyết tương. (Xem phần ‘Tăng mất kali qua mồ hôi’, ‘Chạy thận nhân tạo’ và ‘Thay huyết tương’ ở dưới.)