TÓM TẮT
-
Protein trứng trong vắc-xin cúm – Hầu hết các loại vắc-xin cúm bất hoạt tiêm bắp (IIV) và vắc-xin cúm sống giảm độc lực (LAIV) đều chứa một lượng nhỏ protein trứng. Hàm lượng protein trứng trong vắc-xin đã giảm đáng kể qua các năm và hiện nay tất cả các vắc-xin nguồn gốc từ trứng đều có nồng độ ovalbumin thấp. Chưa có báo cáo về các phản ứng nghiêm trọng sau khi tiêm LAIV hoặc IIV nguồn gốc từ trứng (với hàm lượng ovalbumin <0,24 mcg/0,2 mL liều LAIV và tối đa 0,7 mcg/0,5 mL liều IIV) ở những người dị ứng trứng gà, bao gồm cả những trường hợp có tiền sử sốc phản vệ do ăn trứng. (Xem thêm ‘Hàm lượng protein trứng trong vắc-xin’, ‘Nguy cơ sốc phản vệ đối với vắc-xin’ và ‘Độ an toàn của vắc-xin ở bệnh nhân dị ứng trứng’ ở dưới.)
-
Đánh giá trước khi tiêm chủng – Nhân viên y tế và các bảng câu hỏi sàng lọc không cần khai thác tình trạng dị ứng trứng của người tiêm vắc-xin cúm. Việc thử phản ứng da với vắc-xin cúm trước khi tiêm cho bệnh nhân dị ứng trứng không còn được khuyến cáo. Tuy nhiên, thử phản ứng da vẫn phù hợp khi đánh giá bệnh nhân có tiền sử phản ứng với chính vắc-xin cúm, thay vì tiền sử dị ứng trứng. Những bệnh nhân có tiền sử phản ứng dị ứng với vắc-xin cúm nên được chuyển đến chuyên khoa dị ứng để đánh giá. (Xem thêm ‘Đánh giá nguy cơ’ và “Phản ứng dị ứng với vắc-xin”.)
-
Đối tượng tiêm chủng – Nhiều bệnh nhân dị ứng trứng có nguy cơ cao gặp các biến chứng do cúm, bao gồm trẻ nhỏ và những người có tiền sử hen suyễn hoặc khò khè, do đó họ sẽ được hưởng lợi từ việc tiêm phòng. Chúng tôi khuyến cáo tất cả bệnh nhân từ 6 tháng tuổi trở lên có tình trạng dị ứng trứng, kể cả những người có tiền sử sốc phản vệ do ăn trứng, nên được tiêm vắc-xin cúm hàng năm theo chỉ định tương tự như những bệnh nhân không dị ứng trứng (Khuyến cáo 1A). (Xem thêm ‘Tiếp cận đánh giá và thực hiện tiêm chủng’, mục ‘Nhóm đối tượng đích’ trong “Cúm mùa ở trẻ em: Phòng ngừa bằng vắc-xin” và mục ‘Đối tượng tiêm chủng’ trong “Tiêm vắc-xin cúm mùa ở người lớn”.)
-
Lựa chọn vắc-xin cúm – Chúng tôi sẽ chỉ định bất kỳ loại vắc-xin cúm dạng tiêm nào đã được phê duyệt và phù hợp với độ tuổi (bảng 1) cho những bệnh nhân này, dựa trên các chỉ định và chống chỉ định được nêu trong các bảng (bảng 2 và bảng 3). (Xem thêm ‘Tiếp cận của chúng tôi’ ở dưới.)
-
Cách thức tiêm chủng – Vắc-xin được tiêm theo cách thông thường (tức là tiêm một liều duy nhất thay vì chia thành hai hoặc nhiều liều theo phương pháp thử thách tăng dần và không cần thời gian theo dõi đặc biệt sau tiêm). (Xem thêm ‘Tiếp cận của chúng tôi’ ở dưới.)
-
Phòng ngừa an toàn – Bất kỳ nhân viên y tế nào khi thực hiện tiêm vắc-xin cho người bệnh đều phải chuẩn bị sẵn nhân sự, thuốc và thiết bị hồi sức để xử trí sốc phản vệ tiềm tàng.
-
Phản ứng dị ứng với vắc-xin – Các phản ứng dị ứng với vắc-xin cúm, bao gồm cả sốc phản vệ, vẫn có thể xảy ra tương tự như với bất kỳ loại vắc-xin nào khác. Những phản ứng này có thể do chính tác nhân gây miễn dịch hoặc do các protein/hapten khác ngoài trứng được đưa vào vắc-xin trong quá trình sản xuất. Bệnh nhân có tiền sử phản ứng dị ứng với vắc-xin cúm nên được chuyển đến chuyên khoa dị ứng để đánh giá. (Xem thêm ‘Nguy cơ sốc phản vệ đối với vắc-xin’ và “Phản ứng dị ứng với vắc-xin”.)