TÓM TẮT
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ – Bệnh lý gân chóp xoay là nguyên nhân phổ biến gây đau vai. Các hoạt động lặp đi lặp lại với cánh tay đưa quá đầu trong thể thao hoặc công việc là yếu tố nguy cơ chính. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm hội chứng chèn ép chóp xoay, mất vững hoặc rối loạn vận động xương bả vai, và tuổi cao. Việc nắm vững giải phẫu và cơ sinh học cơ bản của khớp vai sẽ hỗ trợ đắc lực cho quá trình chẩn đoán. (Xem thêm ‘Thuật ngữ’, ‘Dịch tễ học’ và “Đánh giá người lớn có khiếu nại về vai”, phần ‘Giải phẫu và cơ sinh học’.)
Chẩn đoán phân biệt – Bệnh lý gân chóp xoay có thể là một biểu hiện của hội chứng chèn ép vai, nhưng cần được phân biệt với các nguyên nhân khác gây đau vai và đau cổ (bảng 2, sơ đồ 1 và bảng 3). (Xem thêm “Đánh giá người lớn có khiếu nại về vai”.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân mắc bệnh lý gân chóp xoay thường than phiền về tình trạng đau vai khi vận động cánh tay quá đầu. Vị trí đau thường khu trú ở vùng cơ delta phía ngoài và thường đau về đêm, đặc biệt khi nằm nghiêng về phía vai tổn thương. Các vận động viên thường xuyên vận động tay quá đầu thường gặp tình trạng đau trong khi thi đấu, yếu cơ hoặc giảm hiệu suất vận động. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’.)
Khám thực thể – Các nội dung quan trọng trong khám thực thể bao gồm: khám cổ, đánh giá sức mạnh cơ chóp xoay, đánh giá tầm vận động, nghiệm pháp cung đau (painful arc test), cùng các nghiệm pháp chèn ép vai Neer và Hawkins-Kennedy. (Xem thêm ‘Thăm khám lâm sàng’.)
Chẩn đoán hình ảnh – Nhiều lâm sàng coi siêu âm là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá ban đầu các bệnh lý chóp xoay. X-quang quy ước thường không được chỉ định thường quy. (Xem thêm ‘Chẩn đoán hình ảnh’.)
Điều trị – Hiện có ít phương pháp điều trị bệnh lý gân chóp xoay được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học mạnh. Điều trị ban đầu thường bao gồm liệu pháp áp lạnh, nghỉ ngơi và sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) trong thời gian ngắn. Chúng tôi khuyến cáo bệnh nhân chẩn đoán bệnh lý gân chóp xoay nên được điều trị bằng chương trình vật lý trị liệu phù hợp thay vì phẫu thuật hoặc các can thiệp khác (Khuyến cáo 2C). Vật lý trị liệu cần tập trung khắc phục các khiếm khuyết về độ linh hoạt, sức mạnh và sự phối hợp của khớp vai cũng như toàn bộ chuỗi động học liên quan đến chức năng vai. Hướng tiếp cận điều trị của chúng tôi được tóm tắt trong sơ đồ sau (sơ đồ 2).
Đối với những bệnh nhân đau đến mức không thể tham gia vật lý trị liệu hoặc các triệu chứng không cải thiện sau vài tuần điều trị bảo tồn (bao gồm cả vật lý trị liệu), chúng tôi đề xuất tiêm một lần duy nhất glucocorticoid kết hợp với thuốc giảm đau (Khuyến cáo 2C). Nên tránh tiêm nếu đã biết hoặc nghi ngờ có rách chóp xoay mức độ nghiêm trọng. Một chế phẩm thường dùng để tiêm dưới mỏm cùng vai là triamcinolone 40 mg kết hợp với lidocaine 1% hoặc 2%. Việc tiêm lặp lại glucocorticoid có thể gây hại. Việc điều trị rách chóp xoay được thảo luận trong một phần riêng. (Xem thêm “Xử trí rách chóp xoay” và “Tiêm nội khớp và mô mềm: Tiêm thuốc gì và tần suất ra sao?”, phần ‘Sử dụng tiêm glucocorticoid’.)
Hướng tiếp cận đề xuất trong đánh giá và quản lý nghi ngờ tổn thương chóp xoay được mô tả trong văn bản. Nội dung thảo luận chi tiết về chương trình vật lý trị liệu phù hợp cho nhiều bệnh nhân bệnh lý gân chóp xoay được cung cấp riêng biệt. (Xem thêm ‘Tiếp cận của chúng tôi trong đánh giá và quản lý’ và “Nguyên tắc và thực hành phục hồi chức năng cho hội chứng chèn ép vai và các vấn đề liên quan”.)
Chỉ định chuyển phẫu thuật – Chỉ định chuyển phẫu thuật chỉnh hình được đặt ra nếu điều trị bảo tồn không mang lại hiệu quả giảm đau trong vòng 6 đến 9 tháng, hoặc khi chẩn đoán xác định rách chóp xoay có ý nghĩa lâm sàng. (Xem thêm “Biểu hiện và chẩn đoán rách chóp xoay”.)