TÓM TẮT
Thuật ngữ lâm sàng
- Ung thư hậu môn – Được định nghĩa trên lâm sàng là khối u phát triển từ bất kỳ loại nào trong ba loại niêm mạc ở vùng hậu môn (niêm mạc tuyến, niêm mạc chuyển tiếp và niêm mạc vảy) và không thể quan sát toàn bộ khối u khi kéo nhẹ hai mông (hình 1). (Xem mục ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
- Ung thư vùng quanh hậu môn – Được định nghĩa trên lâm sàng là các khối u phát sinh ở vùng da có lông trong bán kính 5 cm tính từ rìa hậu môn và có thể quan sát được toàn bộ khi kéo nhẹ hai mông.
Biểu hiện lâm sàng
Các triệu chứng thường gặp nhất của ung thư hậu môn bao gồm chảy máu trực tràng hoặc hậu môn, đau vùng hậu môn trực tràng hoặc cảm giác có khối ở trực tràng. Các triệu chứng khác bao gồm ngứa hậu môn, mót rặn, cảm giác áp lực, tiết dịch hậu môn và thay đổi thói quen đại tiện. Một số bệnh nhân không có triệu chứng khi khởi phát và được chẩn đoán tình cờ. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán
Nghi ngờ ung thư hậu môn ở bệnh nhân trưởng thành có khối u vùng hậu môn, đặc biệt là những người có triệu chứng (ví dụ: chảy máu hoặc đau hậu môn trực tràng) hoặc có các yếu tố nguy cơ đặc thù. Quá trình đánh giá chẩn đoán bao gồm (xem mục ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới):
- Tiền sử – Khai thác các triệu chứng thường gặp liên quan đến ung thư hậu môn, các kết quả nội soi trước đó và các yếu tố nguy cơ đặc thù (có nhiều bạn tình, quan hệ tình dục qua đường hậu môn, nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các loại ung thư khác liên quan đến human papillomavirus (HPV), hút thuốc lá, tiền sử nhiễm HIV và suy giảm miễn dịch mạn tính). (Xem mục ‘Tiền sử’ ở dưới.)
- Khám thực thể – Khám toàn diện, bao gồm sờ nắn tất cả các hạch bạch huyết (đặc biệt là hạch bẹn hai bên). (Xem mục ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
- Thăm khám hậu môn trực tràng và nội soi – Thăm khám hậu môn trực tràng toàn diện bao gồm quan sát, thăm trực tràng bằng ngón (DRE) và nội soi (soi hậu môn/soi trực tràng, nội soi đại tràng sigma mềm hoặc nội soi đại tràng). (Xem mục ‘Nội soi’ ở dưới và “Tiếp cận bệnh nhân trưởng thành có khiếu nại về hậu môn trực tràng”, phần ‘Soi hậu môn hoặc soi trực tràng’.)
- Sinh thiết – Chẩn đoán ung thư hậu môn thường được xác nhận thông qua sinh thiết các khối u vùng hậu môn nghi ngờ và đánh giá mô bệnh học của mẫu mô thu được. (Xem mục ‘Sinh thiết (chẩn đoán)’ ở dưới.)
- Chẩn đoán hình ảnh – Đối với những bệnh nhân đã xác định chẩn đoán ung thư hậu môn hoặc ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) vùng da quanh hậu môn, chúng tôi thực hiện chẩn đoán hình ảnh để phân giai đoạn bằng CT ngực và bụng có tiêm thuốc cản quang. Hình ảnh vùng chậu được thực hiện bằng CT có cản quang hoặc MRI vùng chậu có tiêm thuốc đối quang từ gadolinium. PET-CT với fluorodeoxyglucose (FDG) từ nền sọ đến giữa đùi là một lựa chọn bổ sung để phân giai đoạn nhưng không bắt buộc và không được thay thế cho chụp CT chẩn đoán. (Xem mục ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)
Hệ thống phân giai đoạn
Tất cả các ung thư biểu mô (ví dụ: biểu mô tế bào vảy, biểu mô tuyến) phát sinh trong bất kỳ bề mặt niêm mạc nào của ống hậu môn hoặc da quanh hậu môn đều được phân giai đoạn tương tự nhau, sử dụng hệ thống phân giai đoạn TNM (Tumor, Node, Metastasis) cho ung thư hậu môn của Ủy ban Hỗn hợp về Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Liên đoàn Quốc tế Chống Ung thư (UICC) (bảng 1). (Xem mục ‘Hệ thống phân giai đoạn’ ở dưới.)
Đánh giá trước điều trị
Đánh giá trước điều trị bao gồm: tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, bảng sinh hóa, xét nghiệm chức năng gan, xét nghiệm HIV (đối với những người chưa rõ tình trạng HIV), khám phụ khoa đối với bệnh nhân nữ, tư vấn về bảo tồn khả năng sinh sản và sức khỏe sinh sản. (Xem mục ‘Đánh giá trước điều trị’ ở dưới.)