TÓM TẮT
Chuẩn bị – Lâm sàng viên cần giải thích lý do cần thực hiện thăm khám cơ quan sinh dục – tiết niệu và mô tả quy trình thực hiện. Cần cung cấp áo choàng hoặc khăn che phù hợp. Khuyến khích bệnh nhân đặt câu hỏi và bày tỏ nguyện vọng về việc có thực hiện thăm khám hay không và thực hiện như thế nào. (Xem thêm ‘Chuẩn bị thăm khám’ ở dưới.)
Sử dụng người giám sát – Đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, cha mẹ, người chăm sóc hoặc người giám hộ cần có mặt trong quá trình thăm khám vùng tầng sinh môn, trừ khi sự hiện diện của họ gây cản trở việc thăm khám; trong trường hợp đó, cần có một người giám sát đi kèm. Đối với bệnh nhân ở độ tuổi vị thành niên, việc sử dụng người giám sát nên là quyết định chung giữa bệnh nhân và lâm sàng viên sau khi lâm sàng viên đã giải thích lý do và mô tả quy trình thăm khám. (Xem thêm ‘Sử dụng người giám sát’ ở dưới.)
Hệ sinh dục – tiết niệu nam
Thăm khám sinh dục – tiết niệu ở trẻ sơ sinh nam tập trung vào các dị tật bẩm sinh, bao gồm: dương vật nhỏ (hình 1), vị trí lỗ sáo bất thường (hình 2), tinh hoàn ẩn (hình 3) và các khối u bất thường ở bìu hoặc vùng bẹn. (Xem thêm ‘Trẻ sơ sinh’ ở dưới.)
Đối với trẻ nam lớn hơn và trẻ mầm non, các khía cạnh quan trọng khi thăm khám bao gồm: vị trí tinh hoàn, đánh giá sơ bộ kích thước dương vật và khả năng tuột bao quy đầu (nếu trẻ chưa cắt bao quy đầu). (Xem thêm ‘Trẻ lớn và trẻ mầm non’ ở dưới.)
Đánh giá ở nam giới tiền dậy thì và dậy thì bao gồm: đánh giá mức độ trưởng thành tình dục (SMR)/giai đoạn Tanner (hình 3); đánh giá dịch tiết niệu đạo; và sờ nắn bìu để xác định vị trí tinh hoàn, thoát vị và các khối u bất thường. (Xem thêm ‘Nam giới tiền dậy thì và vị thành niên’ ở dưới.)
Hệ sinh dục – tiết niệu nữ
Thăm khám sinh dục – tiết niệu ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và trẻ mầm non nữ tập trung vào các dị tật bẩm sinh bao gồm: khối u môi lớn/bé, phì đại âm vật (hình 6A-B) và đánh giá độ thông thoáng của cửa âm đạo qua quan sát. (Xem thêm ‘Trẻ sơ sinh’ và ‘Trẻ lớn và trẻ mầm non’ ở dưới.)
Thăm khám sinh dục – tiết niệu ở nữ giới tiền dậy thì và vị thành niên bao gồm: đánh giá SMR (hình 8 và hình 7) và quan sát cơ quan sinh dục ngoài để tìm các dấu hiệu chấn thương âm đạo, kích ứng hoặc dịch tiết; phì đại âm vật; và các tổn thương vùng âm hộ (ví dụ: lộn niệu đạo (hình 8), nang cạnh niệu đạo, các biến thể giải phẫu của màng trinh (hình 9)). Thăm khám vùng chậu (dùng mỏ vịt và/hoặc khám bằng hai tay) chỉ được chỉ định cho những trường hợp có triệu chứng cơ quan sinh dục – tiết niệu, nghi ngờ bệnh lý sinh dục – tiết niệu, tư vấn đặt dụng cụ tử cung hoặc khi mang thai. (Xem thêm ‘Nữ giới tiền dậy thì và vị thành niên’ ở dưới.)
Hậu môn và trực tràng – Cần thăm khám vùng quanh hậu môn để tìm nứt kẽ hậu môn, trĩ và các tổn thương bất thường khác (ví dụ: sùi mào gà (hình 11A-B), chấn thương, mẩu da thừa (hình 12)). Thăm khám trực tràng bằng ngón tay không được thực hiện thường quy trong khám thể chất định kỳ ở trẻ em. (Xem thêm ‘Hậu môn và trực tràng’ ở dưới.)