TÓM TẮT
Độc tính muộn liên quan đến điều trị trong ung thư tế bào mầm (GCT) tinh hoàn
Ung thư tế bào mầm (GCT) tinh hoàn đáp ứng rất tốt với nhiều phác đồ hóa trị và có tỷ lệ điều trị khỏi đạt khoảng 95%. Vì đa số nam giới mắc GCT tinh hoàn có thời gian sống sót dài hạn, việc giảm thiểu các tác dụng phụ muộn của điều trị là ưu tiên hàng đầu. Các độc tính muộn liên quan đến điều trị có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ cơ quan, cụ thể như sau:
- Hệ hô hấp – Bleomycin có thể gây viêm phổi và xơ phổi. (Xem thêm mục ‘Hô hấp’ ở dưới và “Tổn thương phổi do Bleomycin”.)
- Thận – Cisplatin là thành phần thiết yếu trong các phác đồ hóa trị hiệu quả nhất. Tuy nhiên, Cisplatin có độc tính trên thận và có thể gây giảm mức lọc cầu thận (GFR). (Xem thêm mục ‘Thận’ ở dưới và “Độc tính trên thận của Cisplatin”.)
- Khả năng sinh sản – GCT tinh hoàn thường đi kèm với tình trạng suy giảm sinh tinh. Các phương pháp điều trị (cắt tinh hoàn, hóa trị, xạ trị [RT]) có thể làm trầm trọng thêm tình trạng này. (Xem thêm mục ‘Tác động lên tuyến sinh dục’ ở dưới và “Ảnh hưởng của các thuốc gây độc tế bào đối với chức năng sinh dục ở nam giới trưởng thành”.)
- Tim mạch – Độc tính trên mạch máu là một trong những hệ lụy muộn quan trọng nhất của các phác đồ hóa trị dựa trên Cisplatin. Các vấn đề tim mạch chính bao gồm rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch sớm và bệnh động mạch vành, hiện tượng Raynaud và các biến cố thuyên tắc huyết khối. (Xem thêm mục ‘Tim mạch’ ở dưới.)
- Độc tính thần kinh – Độc tính thần kinh thường gặp trong quá trình điều trị, chủ yếu liên quan đến Cisplatin (thường gây bệnh lý thần kinh cảm giác nhưng không ảnh hưởng vận động và gây độc cho tai), Paclitaxel và Vinblastine. (Xem thêm mục ‘Thần kinh’ ở dưới, “Tổng quan về các biến chứng thần kinh của hóa trị liệu gốc Platinum” và “Tổng quan về các biến chứng thần kinh của hóa trị liệu ung thư không chứa Platinum truyền thống”, phần ‘Alcaloid Vinca’.)
- Ung thư thứ phát – Cả hóa trị và xạ trị đều có liên quan đến sự xuất hiện của các khối u ác tính thứ phát muộn; tình trạng này phổ biến ở những bệnh nhân sống sót sau GCT tinh hoàn hơn so với quần thể chung. (Xem thêm mục ‘Ung thư thứ phát’ ở dưới.)