TÓM TẮT
Dịch tễ học
- Truyền nhiễm – Nhiễm Yersinia chủ yếu lây truyền qua đường thực phẩm (bao gồm tiêu thụ thịt lợn sống hoặc chưa chín kỹ, cũng như các nguồn thực phẩm khác) và đôi khi qua đường nước. Các đường lây truyền ít gặp bao gồm tiếp xúc với thú cưng trong nhà, lây truyền từ người sang người và truyền máu. (Xem ‘Truyền nhiễm’ ở dưới.)
- Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm Yersinia bao gồm trẻ dưới 5 tuổi, rối loạn chuyển hóa sắt và các bệnh đồng mắc khác, bao gồm tình trạng suy giảm miễn dịch. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
- Biểu hiện lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng chính bao gồm viêm ruột đại tràng và viêm ruột giả ruột thừa. Nhiều biến chứng và di chứng sau nhiễm trùng cũng đã được ghi nhận.
- Nhiễm Yersinia cấp tính – Thời gian ủ bệnh điển hình từ 4 đến 6 ngày (dao động từ 1 đến 14 ngày). Các biểu hiện lâm sàng bao gồm sốt, đau bụng và tiêu chảy; buồn nôn và nôn cũng có thể xảy ra. Tiêu chảy máu thường gặp hơn ở trẻ em. Viêm họng có thể là triệu chứng khởi phát. Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn có thể xảy ra, đặc biệt ở trẻ sơ sinh, người suy giảm miễn dịch hoặc người có tình trạng quá tải sắt. (Xem ‘Nhiễm Yersinia cấp tính’ ở dưới.)
- Viêm ruột giả ruột thừa – Nhiễm Yersinia cấp tính dễ nhầm lẫn với viêm ruột thừa cấp; các triệu chứng chồng lấp bao gồm đau bụng vùng hố chậu phải, sốt, nôn, tăng bạch cầu và tiêu chảy. (Xem ‘Viêm ruột giả ruột thừa’ ở dưới.)
- Di chứng sau nhiễm trùng – Các di chứng sau nhiễm trùng bao gồm hồng ban nút và viêm khớp phản ứng. (Xem ‘Di chứng sau nhiễm trùng’ ở dưới.)
Chẩn đoán
- Nghi ngờ lâm sàng – Cần nghi ngờ nhiễm Yersinia khi có các biểu hiện lâm sàng phù hợp (sốt, đau bụng và tiêu chảy, có hoặc không kèm buồn nôn và nôn); các triệu chứng này có thể xuất hiện khi có hoặc không có yếu tố dịch tễ liên quan (như tiêu thụ thịt lợn sống hoặc chưa chín kỹ, hoặc tiếp xúc với thực phẩm/nước trong một vụ dịch). (Xem ‘Tiếp cận lâm sàng’ ở dưới.)
- Đánh giá chẩn đoán – Gửi mẫu phân để nuôi cấy; nếu có điều kiện, có thể thực hiện xét nghiệm bảng phân tử nhanh (molecular panel) từ mẫu phân. Bệnh nhân sốt cần được cấy máu. Bệnh nhân viêm họng cần được cấy họng. Đối với những bệnh nhân phẫu thuật do nghi ngờ viêm ruột thừa, cần nuôi cấy các bệnh phẩm trong phẫu thuật. (Xem ‘Tiếp cận lâm sàng’ ở dưới.)
- Định danh vi khuẩn – Chẩn đoán nhiễm Yersinia thường được xác lập thông qua nuôi cấy vi khuẩn từ phân hoặc máu; cũng có thể xác lập thông qua nuôi cấy từ các vị trí vô trùng khác. Các mẫu bệnh phẩm dương tính bằng các công cụ không phụ thuộc nuôi cấy (culture-independent tools) cần được thực hiện nuôi cấy phản xạ (reflex culture) để xác nhận chẩn đoán và thu thập dữ liệu về độ nhạy kháng sinh. (Xem ‘Định danh vi khuẩn’ ở dưới.)
Điều trị viêm ruột đại tràng
(Xem ‘Viêm ruột đại tràng không nghiêm trọng’ ở dưới.)
Chỉ định
- Đối với bệnh nhân viêm ruột đại tràng mức độ nhẹ và không có nguy cơ diễn tiến nặng, chúng tôi đề nghị không điều trị bằng kháng sinh (Khuyến cáo 2C), do chưa chứng minh được lợi ích.
- Đối với bệnh nhân viêm ruột đại tràng không nghiêm trọng là trẻ sơ sinh, hoặc có tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc rối loạn chuyển hóa sắt, chúng tôi đề nghị điều trị bằng kháng sinh đường uống (Khuyến cáo 2C).
Lựa chọn và thời gian dùng kháng sinh
Đối với người lớn, chúng tôi điều trị bằng fluoroquinolone (ciprofloxacin hoặc levofloxacin); các thuốc thay thế bao gồm trimethoprim-sulfamethoxazole hoặc doxycycline. Đối với trẻ em, chúng tôi điều trị bằng trimethoprim-sulfamethoxazole.
Thời gian điều trị thông thường là 5 ngày.
Điều trị bệnh nặng
(Xem ‘Bệnh nặng’ ở dưới.)
Chỉ định
Đối với bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc bệnh nặng (phân lẫn máu đại thể và sốt cao, các biểu hiện khác của nhiễm trùng ngoài đường ruột), chúng tôi đề nghị điều trị bằng kháng sinh đường tĩnh mạch (Khuyến cáo 2C).
Lựa chọn và thời gian dùng kháng sinh
Chúng tôi ưu tiên điều trị bằng ceftriaxone phối hợp với gentamicin; ciprofloxacin là thuốc thay thế cho ceftriaxone.
Thời gian điều trị ít nhất 3 tuần; thời gian điều trị kéo dài hơn có thể phù hợp cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc nhiễm trùng khu trú ngoài đường ruột. Khi lâm sàng cải thiện, có thể hoàn tất điều trị bằng đường uống.